Xem xét và Đôi điều về chế định hội thẩm trong xét xử hình sự

Với tư cách là cơ quan thực hiện chức năng tư pháp và xét xử của một nhà nước, tòa án luôn có một vị thế hết sức đặc biệt. Cùng với lập pháp, hành pháp thì tư pháp được hiểu là quyền xét xử (tiếng Pháp là pouvoir judiciaire, tiếng Anh là judiciary power) hoặc để chỉ một nhánh quyền lực nhà nước phụ trách công việc xét xử và bảo vệ pháp luật (không hiểu theo nghĩa là sự công bằng, pháp luật (tiếng Pháp và tiếng Anh là Justice)).

(LSVN) – Việc quy định trong các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của tòa án có ý nghĩa quan trọng, không chỉ thể hiện sự nhân đạo mà còn cho thấy tính dân chủ trong xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận, việc thực thi chế định này hiện nay ở nước ta vẫn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế cần tiếp tục được quan tâm, nghiên cứu và điều chỉnh.

Hoạt động
Với tư cách là cơ quan thực hiện chức năng tư pháp và xét xử của một nhà nước, tòa án luôn có một vị thế hết sức đặc biệt. Cùng với lập pháp, hành pháp thì tư pháp được hiểu là quyền xét xử (tiếng Pháp là pouvoir judiciaire, tiếng Anh là judiciary power) hoặc để chỉ một nhánh quyền lực nhà nước phụ trách công việc xét xử và bảo vệ pháp luật (không hiểu theo nghĩa là sự công bằng, pháp luật (tiếng Pháp và tiếng Anh là Justice)). Sự hiện diện của tư pháp, mà rõ nhất là các tòa án, nhân danh pháp luật, nhân danh nhà nước có quyền lực tối cao bằng việc đưa ra những phán quyết cuối cùng để phân định các tranh chấp dựa trên quy định của pháp luật một cách công khai và về nguyên tắc nó mang tính bắt buộc phải được thực thi. Đối với vụ án hình sự, pháp quyết của tòa án được thể hiện bằng bản án hoặc quyết định có sự liên quan trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm, tính mạng con người, thậm chí việc làm đó cho phép các cơ quan thực thi pháp luật tước bỏ sinh mạng của một hoặc nhiều người. Nói cách khác, xét xử vụ án hình sự là sự thể hiện rõ rệt quyền lực nhà nước và là một biện pháp hữu hiệu để đấu tranh phòng, chống tội phạm, ở đó chỉ duy nhất hội đồng xét xử đối với vụ án mới có quyền ban hành văn bản pháp lý quan trọng này. Chính vì ý nghĩa đặc biệt đó nên pháp luật của hầu hết các quốc gia đều rất coi trọng quy định trình tự, cách thức tổ chức, thực hiện của tòa án, hội đồng xét xử nhằm xử đúng người, đúng tội để đấu tranh đối với tội phạm hình sự, nhưng đồng thời để tránh bất công, hạn chế oan, sai và bảo vệ quyền con người.
Cũng chính bởi để các phán quyết được đưa ra đúng pháp luật, thể hiện sự công bằng, dân chủ nên vấn đề có hội thẩm hay bồi thẩm đoàn, phụ thẩm… tham gia hội đồng xét xử cùng với thẩm phán luôn được quan tâm, ghi nhận và thực hiện ở các nhà nước khác nhau. Từ xa xưa, người Hy Lạp cổ đại đã có hội thẩm tham gia xét xử và việc có nhiều hay ít hội thẩm tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của phiên tòa, nhưng bao giờ cũng là số lẻ. Theo cách làm của họ lúc bấy giờ thì mỗi hội thẩm có 2 viên sỏi, một màu trắng và một màu đen để bỏ vào một trong 2 chiếc hòm đã được chuẩn bị sẵn. Quan tòa sẽ căn cứ vào số lượng sỏi của mỗi hòm, nhiều sỏi đen hơn nghĩa là có tội và ngược lại để tuyên án phù hợp với quy định của pháp luật. Ở nước Nga xưa cũng có cách làm tương tự. Theo luật của thành phố Iaroslav, khi xử án, nguyên cáo phải đi cùng với bị cáo “đến trước mặt mười hai công dân”, đây thực chất cũng là các hội thẩm, để những người này xem xét và xác định mức độ tội lỗi.
Trong khi đó, tại Mỹ sự tham gia cả người dân vào hoạt động xét xử cũng được quy định khá chặt chẽ thông qua bồi thẩm đoàn, còn ở Nhật Bản khi xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm nghiêm trọng thì hội đồng xét xử bao gồm 3 thẩm phán và 6 hội thẩm nhân dân.
Xét x? so th?m v? án Duong Chí Dung cùng d?ng ph?m
Thực tiễn cho thấy, việc quy định và áp dụng xét xử có hội thẩm cùng với ý nghĩa nhân đạo, góp phần giải quyết vụ án được khách quan còn giúp tăng cường nhận thức và hiểu biết pháp luật của người dân, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật; giúp người dân giám sát hoạt động của tòa án một cách trực tiếp, dân chủ. Đây được xem là những giá trị chung của chế định hội thẩm đối với nền tư pháp của mỗi chính thể và mỗi quốc gia.
Chế định hội thẩm trong pháp luật Việt Nam
Ở Việt Nam, xét xử có hội thẩm nhân dân được coi là nguyên tắc hiến định. Kể từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, trải qua gần 70 năm, chế định hội thẩm luôn được khẳng định trong các Hiến pháp (Điều 65 Hiến pháp 1946; Điều 99 Hiến pháp 1959; Điều 130 Hiến pháp 1980; Điều 120 Hiến pháp 1992; Điều 103 Hiến pháp năm 2013) và trong các văn bản pháp luật khác.
Trong những năm từ 1945 đến 1950, theo quy định, phụ thẩm nhân dân có nghĩa vụ tham gia phiên tòa khi được lựa chọn và nếu vắng mặt có thể bị phạt tiền. Thậm chí, số tiền phát sẽ tăng dần theo số lần vi phạm và có thể bị mất chức phụ thẩm. Phụ thẩm cũng có nghĩa vụ giữ bí mật nội dung nghị án và có thể bị phạt tù nếu vi phạm. Trong thời kỳ này, tiêu chuẩn làm phụ thẩm nhân dân khá cao, nhưng vai trò và thẩm quyền của phụ thẩm có phần hạn chế hơn so với các .
Trải qua hàng chục năm qua, mặc dù có những thay đổi nhất định, nhưng về cơ bản tinh thần của những nội dung cải cách từ năm 1950 đến nay vẫn được duy trì. Tuy số lượng phụ thẩm hoặc hội thẩm nhân dân (trong quân đội là hội thẩm quân nhân) tham gia vào hội đồng xét xử không lớn, nhưng với những thay đổi về thành phần hội đồng xét xử, mở rộng diện người có thể làm hội thẩm nhân dân, mở rộng quyền của hội thẩm nhân dân dưới nhiều góc độ chứng tỏ rằng, tiếng nói của nhân dân có ý nghĩa đáng kể trong quyết định cuối cùng của tòa án. Theo quy định hiện hành, tại các phiên tòa sơ thẩm, hội đồng xét xử gồm 1 thẩm phán và 2 hội thẩm; trong trường hợp vụ án có tính chất phức tạp, nghiêm trọng sẽ gồm 2 thẩm phán và 3 hội thẩm nhân dân. Về nguyên tắc xét xử thì cùng với sự tham gia của hội thẩm Điều 10 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định “Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số…”. Nói cách khác, tại các phiên tòa sơ thẩm, trong hội đồng xét xử, thành phần hội thẩm nhân dân luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với thẩm phán, các thành viên đều có quyền ngang nhau trong việc xét xử và quyết định cuối cùng do đa số.
Do địa vị pháp lý và vai trò quan trọng của hội thẩm như vậy nên thời gian qua, cùng với Hiến pháp, pháp lệnh, luật thì các cơ quan chức năng đã có nhiều văn bản quy định liên quan tới hội thẩm. Trong đó có thể kể đến các thông tư, như: Thông tư 1671-HCTP ngày 11/9/1956 liên bộ Nội vụ – Tư pháp chấn chỉnh việc thực hiện chế định hội thẩm nhân dân; Thông tư 06-TT/LB ngày 9/3/1959 của Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp về việc bầu cử hội thẩm nhân dân các cấp; Thông tư 377-TC ngày 23/4/1961 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc tổ chức bầu cử thẩm phán và hội thẩm nhân dân của các tòa án nhân dân địa phương; Thông tư 05/TTLN ngày 15/9/1993 của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số quy định của Pháp lệnh về thẩm phán và hội thẩm nhân dân; Thông tư 01/2003/TTLT/TANDTC-BQP-BNV-UBTWMTTQVN ngày 1/4/2003 của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thẩm phán và hội thẩm toà án nhân dân; Thông tư 01/2004/TTLT-TANDTC-UBTWMTTQVN ngày 01/3/2004 của Tòa án nhân dân tối cao và Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn về việc chuẩn bị nhân sự và giới thiệu bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân; Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội thẩm Tòa án nhân dân (ban hành kèm theo Nghị quyết liên tịch số 05/2005/NQLT-TANDTC-BNV-UBTWMTTQVN ngày 05/12/2005 của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Thông tư 03/2009/TT-TANDTC ngày 05/3/2009 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc giới thiệu bầu và đề nghị miễn nhiệm, bãi nhiệm hội thẩm nhân dân huyện, quận không tổ chức hội đồng nhân dân; Thông tư 01/2011/TTLT-TANDTC-BQP-BNV ngày 20/10/2011 của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thẩm phán và hội thẩm tòa án nhân dân;…
Hiện nay, Luật Tổ chức tòa án nhân dân 2014, bên cạnh việc quy định về vị trí, vai trò của hội thẩm trong xét xử tại các Điều 6, 7, 8, 9, 10 thì Luật này còn dành hẳn Chương VIII để quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, tiêu chuẩn, nhiệm kỳ của hội thẩm; thủ tục bầu, cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm hội thẩm; chế độ, chính sách, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân đối với hội thẩm. So với trước đó, các quy định về hội thẩm đã có những bổ sung quan trọng nhằm khắc phục những tồn tại, bất cập trong tổ chức và hoạt động của hội thẩm tòa án nhân dân; bảo đảm việc tham gia của hội thẩm vào công tác xét xử; đồng thời, thực hiện quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động xét xử. Cụ thể Điều 91 Luật Tổ chức tòa án nhân dân 2014 quy định:
– Hội thẩm được tổ chức thành Đoàn Hội thẩm.
– Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì phối hợp với Bộ Nội vụ và Tòa án nhân dân tối cao trình Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn Hội thẩm.
– Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực phân công Hội thẩm tham gia xét xử, bảo đảm phù hợp với yêu cầu xét xử vụ án.
– Cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân có người được bầu hoặc cử làm Hội thẩm có trách nhiệm tạo điều kiện để Hội thẩm làm nhiệm vụ.
– Trong thời gian Hội thẩm làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án Tòa án thì cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân có Hội thẩm đó không được điều động, phân công Hội thẩm làm việc khác, trừ trường hợp đặc biệt và phải thông báo cho Chánh án Tòa án biết.
Những quy định về chế định hội thẩm trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 đang từng bước hoàn thiện chế định hội thẩm tại nước ta theo hướng tăng cường sự tham gia thực sự, có chất lượng của nhân dân vào quá trình xét xử tại tòa án như: Tăng số lượng hội thẩm trong các hội đồng xét xử; tăng cường năng lực chuyên môn, kỹ năng xét xử cho hội thẩm; cải tiến cơ chế quản lý và giám sát hội thẩm theo hướng mở rộng quyền hạn đi đôi với ràng buộc trách nhiệm… Việc hoàn thiện chế định hội thẩm phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện thực tế hy vọng sẽ giúp cho tòa án thực hiện tốt quyền tư pháp, đáp ứng được yêu cầu của xã hội, nhất là trong tiến trình thực hiện cải cách tư pháp hiện nay.
Thực trạng và một số vấn đề đặt ra cần khắc phục
Cùng với Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức tòa án năm 2014 quy định “Tòa án nhân dân xét xử tập thể quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”. Như vậy, kế thừa các quy định của pháp luật trước đây, chế định có hội thẩm trong xét xử và kết quả xét xử (bản án hoặc quyết định) của tòa án tiếp tục được ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động tố tụng cho thấy giữa quy định và thực tế vẫn còn một khoảng cách khá xa, chưa kể vấn đề này vẫn đang bộc lộ một số bất cập cần được xem xét, nghiên cứu.
Theo thống kê, đến nay tổng số hội thẩm nhân dân tòa án nhân dân địa phương đã bầu được là 15.630 người, tuy nhiên số lượng này chưa phải đã nhiều nếu so với số vụ án có hội thẩm tham gia xét xử hàng năm. Chưa tính, do phần lớn trong số đó là kiêm nhiệm hoặc cán bộ đã nghỉ hưu, trong khi do hội thẩm được bầu và có nhiệm kỳ nên để đảm bảo nguyên tắc xét xử sơ thẩm của tòa án nhân dân có hội thẩm tham gia theo quy định của Hiến pháp 2013 tại Điều 103 khó có thể đảm bảo chất lượng và hiệu quả trên thực tế. Mặt khác, khi tham gia xét xử, bên cạnh yếu tố thời gian, điều kiện làm việc, kiến thức pháp luật, chế độ đãi ngộ… thì không phải hội thẩm nào cũng hội được các vấn đề về kiến thức xã hội, lĩnh vực chuyên môn hoặc hoàn cảnh thực tế liên quan đến vụ án. Do đó, không ít trường hợp hội thẩm xem xét vấn đề và đưa ra quan điểm không sát thực, yếu tố đại diện cho người dân khó có thể được phát huy như mong muốn.
Thứ hai, theo Hiến pháp 2013, bên cạnh việc có những quy định cụ thể, rõ ràng hơn về quyền con người thì tại khoản 5 Điều 103 nêu rõ “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Điều này có nghĩa, phán quyết cuối cùng của tòa án phải dựa vào kết quả tranh tụng tại tòa và như vậy, yêu cầu đặt ra là khá cao về bản lĩnh, nghiệp vụ chuyên môn đối với những người tham gia tố tụng, nhất là đối với các thành viên trong hội đồng xét xử. Tuy vậy, theo quy định, việc xét xử được thực hiện tập thể, quyết định theo đa số, tại các phiên tòa sơ thẩm số lượng hội thẩm chiếm tỷ lệ cao hơn so với thẩm phán. Trong khi pháp luật đòi hỏi thẩm phán phải có tiêu chuẩn cao về chuyên môn, nghiệp vụ cùng với những quy định hết sức chặt chẽ về quy trình bổ nhiệm, quản lý thì tiêu chuẩn của hội thẩm đến nay về cơ bản vẫn rất hạn chế về kiến thức pháp lý và chuyên môn nghiệp vụ. Phần lớn hội thẩm nhân dân lâu nay vẫn được xem là công việc kiêm nhiệm, cơ cấu hội thẩm theo từng lĩnh vực. Thường thì khi có các vụ án mà đương sự, bị cáo tại phiên tòa có liên quan đến các lĩnh vực nào đó, sẽ được mời đến tham gia nghiên cứu hồ sơ để xét xử. Do đó, mặc dù đã có những quy định được xem là tốt hơn để bầu, quản lý… hội thẩm nhân dân, nhưng nếu các tiêu chuẩn của hội thẩm vẫn chưa được nâng cao thì việc để hội thẩm và thẩm phán có quyền ngang nhau khi xét xử rất khó đảm bảo hiệu chất lượng của các bản án.
Thứ ba, thực tế cho thấy, hầu hết nguồn của hội thẩm nhân dân là các công chức, viên chức nhà nước kiêm nhiệm hoặc đã nghỉ hưu. Chưa kể, do sự ràng buộc, quản lý như vừa qua còn khá lỏng lẻo; động lực để họ tham gia vào vụ án là không cao vì lợi ích cũng như trách nhiệm của họ trong các vụ án cũng không phải là vấn đề lớn nên rất khó ràng buộc, xử lý khi xẩy ra sai xót do chính hành vi mà họ gây ra. Hơn nữa, hình thức cao nhất về trách nhiệm của hội thẩm là truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng quy định này hoàn toàn thiếu các căn cứ pháp lý và thực tế áp dụng. Trong trường hợp hậu quả do các hội thẩm gây ra nếu bị phát hiện khi đó sẽ có nhiều lý do để biện minh, như trình độ, năng lực có hạn; điều kiện, thời gian nghiên cứu hồ sơ, xét xử có hạn; hoặc do không còn là hội thẩm, nhưng kể cả khi vẫn đang là hội thẩm thì việc xác định trách nhiệm đối với họ cũng rất khó khăn… Thực tiễn cho thấy, trước đây, tòa án chỉ quản lý hội thẩm trong thời gian họ nghiên cứu hồ sơ và tham gia xét xử. Ngoài thời gian đó thì họ sinh hoạt tại cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc hoặc địa phương nơi họ sinh sống. Hiện nay, mặc dù có quy định thành lập Đoàn Hội thẩm, nhưng nếu chỉ mang tính chất tự nguyện để các hội thẩm nhóm họp, trao đổi các vấn đề về công tác hoặc giúp đỡ nhau trong cuộc sống thì cũng khó phát huy được vai trò của hoạt động này. Trong khi đó, xét xử các loại vụ án là lĩnh vực nhạy cảm dễ bị sức ép, tác động và khó tránh khỏi phát sinh tiêu cực…
Thứ tư, theo quy định, mặc dù trách nhiệm của hội thẩm nhân dân được xác định, nhưng vẫn mang nặng tính hình thức và thiếu thực tế. Như trên đã nói cùng với kiến thức, năng lực và sự chi phối về điều kiện tham gia nghiên cứu hồ sơ, xét xử, các hội thẩm còn có tư duy “nhiệm kỳ” nên không phải bao giờ và lúc nào hội thẩm cũng có thể toàn tâm toàn ý thực hiện vai trò của mình. Mục đích và yêu cầu đối với hội thẩm như quy định của pháp luật hiện nay và việc đòi hỏi trình độ của họ giống như thẩm phán khi xét xử có quyền “ngang nhau” và áp dụng đúng pháp luật là thiếu cơ sở. Theo quy định, yêu cầu đối với hội thẩm chỉ là hiểu biết pháp luật chứ không phải chuyên gia về pháp luật trong vụ án mà họ tham gia xét xử. Chính vậy nên hội thẩm là đối tượng có thể dễ bị các đối tượng tác động, thậm chí không ít trường hợp hội thẩm chỉ như người thừa hành của thẩm phán. Chưa kể nếu có tiêu cực xẩy ra thì cũng rất khó xác định. Bên cạnh đó, do tư duy “án tại hồ sơ” nên sau khi xét xử sơ thẩm khi cần cải án, sửa án phải hủy án sẽ rất khó khăn, phức tạp. Qua nghiên cứu tình trạng án kéo dài và những vụ việc oan sai, có dấu hiệu oan sai cho thấy có không ít trường hợp do yếu tố hội thẩm, thậm chí rất dễ dẫn đến việc thiếu tin tưởng vào hội thẩm nhân dân nói riêng và Hội đồng xét xử sơ thẩm nói chung.
Đã có không ít vụ án mặc dù tòa cấp phúc thẩm do thấy chưa đủ căn cứ kết tội bị cáo liền trả hồ sơ điều tra lại nhưng khi tòa sơ thẩm xử vòng hai, vòng ba vẫn tuyên vẫn tuyên có tội. Khi kiểm tra kỹ hồ sơ vụ việc mới thấy, do khi nghị án các hội thẩm đều biểu quyết theo ý của mình nên dù trái quan điểm với thẩm phán chủ tọa phiên tòa nhưng bản án vẫn được tuyên theo ý các hội thẩm. Thực tế là hiện nay có quá nhiều bản án sơ thẩm bị kháng cáo phúc thẩm, ở đó không loại trừ trường hợp hội đồng xét xử sơ thẩm sau vì biết trước đã sai nên tiếp tục… để cho sai nhằm kéo dài việc xử lý và để lẩn tránh trách nhiệm cho các “đồng nghiệp” khác. Điều này dẫn đến những lãng phí vô cùng to lớn về thời gian và tiền bạc của xã hội và gây nên những hệ lụy khôn lường. Hội thẩm gần như không phải chịu bất kỳ trách nhiệm hành chính nào liên quan đến chất lượng xét xử. Thậm chí, khi phát hiện án oan sai do xét xử thì việc xử lý trách nhiệm đối với hội thẩm là rất khó khăn, không giống như đối với thẩm phán.
Thiết nghĩ trong khi xét xử sơ thẩm có hội thẩm và phán quyết của tòa dựa trên kết quả biểu quyết theo đa số được xác định là nguyên tắc hiến định thì các cơ quan có liên quan cần phối hợp tốt hơn với tòa án trong công tác lựa chọn, tập huấn, bồi dưỡng cho hội thẩm, đặc biệt là tập huấn các văn bản pháp luật hoặc văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật mới; tổ chức rút kinh nghiệm trong xét xử một số loại vụ án đặc thù, cũng như có sự quản lý, giám sát và hỗ trợ về điều kiện làm việc, bồi dưỡng nghiệp vụ… và có các quy định thực tế hơn về chức năng, nhiệm vụ để chế định hội thẩm đảm bảo trong thực tế.

Cùng Danh Mục

Nội Dung Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *