Tôi vẫn tác nghiệp báo Tết ở Đồng Văn mặc kệ ngày tận thế

Nhớ lời hứa với anh Bé “hói”, khi còn loanh quanh bên cột cờ Lũng Cú tôi đã nghĩ sẽ làm một đoạn thơ ngắn, nhưng phải thật ấn tượng. Chợt nhớ 21/12 đúng ngày mà người ta đồn là , tôi liền nghĩ ra mấy câu thơ nhằm ghi lại kỷ niệm này với ý định sẽ gây bất ngờ với các nhà thơ vùng cao trong một cuộc rượu ngô.

(LSVN) – Giữa những ngày cả Hà Nội tưng bừng kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” và nhộn nhịp chuẩn bị đón chào năm mới 2013, chúng tôi lại xách ba lô đến vùng địa đầu cực bắc của Tổ quốc. Vẫn biết, đối với người làm báo thì không có nhiều sự lựa chọn về thời gian, địa điểm tác nghiệp, nhưng phải rời Thủ đô và xa những người thân yêu để đến với “cao nguyên đá” vào thời điểm “năm sắp hết, tết sắp đến”, nhất là vẫn nghe người ta đồn nhau về “ngày tận thế” đã cận kề, quả không khỏi chạnh lòng.

Sau nhiều giờ đồng hồ, mặc gió lạnh thay nhau ù réo, vượt qua hàng trăm cây số với những vòng cua tay áo luồn qua các sườn đồi núi cheo leo khúc khửu, chiều ngày 20/12/2012 chúng tôi cũng “cán đích” huyện lỵ Đồng Văn trong bộ dạng không khác gì dân “phượt”. Sau mấy phút làm quen, câu chuyện giữa Chánh văn phòng UBND huyện Hoàng Ngọc Linh và chúng tôi trở nên sôi nổi hơn. Bằng cách nói chuyện cuốn hút, giống như một chủ doanh nghiệp khi tiếp cận đối tác của Linh nên chỉ một khoảng thời gian ngắn chúng tôi đã có trong tay nhiều thông tin, tài liệu quan trọng về huyện địa đầu cực bắc của Tổ quốc.
toan-canh-cho-lung-cu
Vừa ổn định nơi ở, đang lên kế hoạch làm việc cụ thể cho những ngày có mặt ở Đồng Văn, điện thoại cầm tay của tôi đổ chuông. Từ đầu máy bên kia, giọng Linh dè dặt “có các anh về huyện dự Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), xin mời các nhà báo đến dự bữa cơm thân mật cùng chúng tôi. Mọi việc xong hết rồi, 15 phút nữa mời các anh qua nhé”. Biết trước “ăn cơm” ở đây là phải uống rượu, nhất là món rượu ngô men lá của đồng bào mà “anh em” mời cán bộ từ xuôi lên là khó tránh, nhưng nghĩ sẽ là dịp tốt để tiếp cận nhiều cán bộ từ các nơi về nên chúng tôi quyết định “nhập cuộc” (cũng chính nhờ những cuộc “gật gù” này mà sau 3 ngày ở Đồng Văn tôi đã có 5 bài đăng trang trọng trên các báo, tạp chí dịp Tết đó và một số bài viết sau này). Không ngoài dự đoán, tại bữa cơm thân mật này, chúng tôi đã có dịp làm quen, trao đổi với nhiều vị là lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Giang, Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, lãnh đạo và đại diện các phòng ban của huyện sở tại… Và tất nhiên, một trong những nơi được ưu ái, diễn ra sôi nổi hơn cả trong “bữa cơm” này chính là khu vực có các nhà báo. Vậy là lần lượt, từng người một đến nâng ly “chúc sức khỏe”… nhà báo. “Mệt ư? Không sao – rượu ngô ở đây uống êm mà không đau đầu” – câu nói này như một điệp khúc được nhắc lại nhiều lần, từ cô chuyên viên hành chính ngồi cùng mâm chúng tôi cho đến các vị cán bộ của tỉnh. “Có đi phải có lại”, rượu ngô cứ rót ra, tiếng ly chạm nhau lách cách, lời chúc sức khỏe tiếp tục nổi lên và mọi ánh mắt cũng trở nên long lanh, hào hứng hơn. Nhưng nếu bình chọn, những người lập kỷ lục “uống rượu nhiệt tình” nhất hôm đó có lẽ lại chính là hai nữ cán bộ trẻ của huyện và nhà văn Trần Bé (Bé “hói”) – Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Hà Giang. Sự ngạc nhiên của tôi chỉ tìm được lời giải khi nhớ lại câu nói của Linh “Đồng Văn là huyện nghèo, điều kiện tự nhiên và khí hậu rất khắc nghiệt. Diện tích có đất chỉ chiếm 30% tổng diện tích tự nhiên, mùa đông nhiều khi có lúc dưới 0 độ; toàn huyện có 17 dân tộc anh em, trong đó riêng người H’Mông chiếm tới 88,4% dân số. Rượu ngô men lá được coi là đặc sản ở khu vực này. Uống rượu không những là thói quen của bà con mà còn góp phần chống lại giá rét”.
Cách Thị trấn Đồng Văn 24km, Lũng Cú là một trong 9 đơn vị cấp xã biên giới của huyện cực bắc Đồng Văn. Thời tiết sáng đó được xem là khá lý tưởng, nhưng có đi thực tế mới thấy hết nỗi truân chuyên của quãng đường “ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” ở đây. Bởi nó không chỉ quanh co vòng vèo, liên tiếp có những khúc cua tay áo, mà còn luôn bị mây mù, sương lạnh bao phủ che khuất tầm nhìn. Thi thoảng cũng có một vài chiếc xe máy, hay gặp đôi ba người dân bản địa qua lại, nhưng sự heo hút của đồi núi và vẻ quạnh quẽ vẫn làm cho người bạn đồng hành cùng tôi không ít lần phải giật mình. Cột cờ Lũng Cú sừng sững vừa hiện ra trước mắt cũng là lúc tôi phát hiện có một phiên chợ ồn ã đang họp ngay phía dưới chân núi. Tuy không nói với nhau, nhưng chúng tôi đều muốn tranh thủ thu vào ống kính những khoảnh khắc hiếm có ở chốn “thâm sơn cùng cốc”. Sau một vòng khẩn trương tiếp cận không khí rộn ràng với đủ “sắc màu Lũng Cú”, chúng tôi vội vàng lao xe lên hướng Cột cờ. Ngắm lá cờ rộng 54m2 phần phật bay trong gió, tôi quên cả mỏi mệt, hăm hở tìm cách trèo lên từng bậc thang. Không hiểu khi ấy do xúc động hay cảm giác lần đầu được đứng bên ngọn cờ nơi có độ cao trên 1000m ở miền cực bắc của Tổ quốc, mà bước chân như muốn khựng lại. Đứng ở nơi cao nhất của kỳ đài, hướng mắt về bốn phía, tôi muốn chia sẻ cảm giác với những người thân và không muốn bỏ lỡ bất cứ giây phút nào để ghi lại những hình ảnh đẹp từ độ cao trên 1.700m so với mực nước biển. Điện thoại chợt rung nhẹ, tôi đọc tin nhắn của anh Bé “hói” với nội dung “Anh đang dự hội nghị. Đến cột cờ đừng quá xúc động mà khóc. Nhớ có câu thơ cảm tác, nếu không là bị phạt đấy”. Tôi chỉ nhắn lại một từ “Vâng” và dự kiến sẽ có bài thơ để lưu lại kỷ niệm sâu sắc này. Đọc tấm bia đồng ghi ngày khởi công 8/3/2010, ngày hoàn thành 2/9/2010, tôi không khỏi băn khoăn về khoảng thời gian mà huyện Đồng Văn tập trung để hoàn thành đối với công trình uy nghi, vững trãi và to đẹp này. Nguyễn Thanh Hà – 23 tuổi, quê Phú Thọ – người duy nhất được xem là “dính dáng đến cột cờ” mà chúng tôi gặp, có mặt ở khu vực làm nhiệm vụ trông coi quần thể di tích, kiêm chụp ảnh, bán đồ lưu niệm cho biết “Cột cờ hiện nay là được trùng tu, làm lại, còn trước đó nó đã có nhưng có vẻ đơn giản hơn”. Hà cũng cho biết thêm, em đến đây mới được hơn 6 tháng. Thường thì khách du lịch đến đây đông nhất là vào dịp đầu xuân hay tháng 9, tháng 10, hoặc dịp lễ tết. “Vậy việc thay cờ do ai làm và làm khi nào?” – tôi hỏi Hà khi đứng trên cao tôi thấy lá cờ lớn phần phật bay trước gió làm cong cả cây inox to bằng cổ tay người lớn và chiếc “dây cột” được người ta dùng bằng một dây tời thép. Hà nhanh nhảu đáp: “quản lý và thay cờ là lực lượng biên phòng anh ạ. Thường thì khi cờ bị bạc màu hoặc rách, các anh ấy sẽ thay”.
Nhớ lời hứa với anh Bé “hói”, khi còn loanh quanh bên cột cờ Lũng Cú tôi đã nghĩ sẽ làm một đoạn thơ ngắn, nhưng phải thật ấn tượng. Chợt nhớ 21/12 đúng ngày mà người ta đồn là ngày tận thế, tôi liền nghĩ ra mấy câu thơ nhằm ghi lại kỷ niệm này với ý định sẽ gây bất ngờ với các nhà thơ vùng cao trong một cuộc rượu ngô.

Trở lại Đồng Văn đã quá trưa. Do ngày 21/12 trùng với ngày thứ Sáu cuối tuần và có lịch hẹn làm việc với lãnh đạo huyện vào đầu giới chiều nên chúng tôi vội tìm một quán ăn nhanh. Tại nhà hàng Lương Gia – cuối đường Sùng Dúng Lù, đối diện với UBND huyện Đồng Văn, trong bữa ăn quếnh quáng, tôi phát hiện một “người đàn ông quen quen” ngồi hút thuốc lào một mình. Qua câu chuyện, được biết ông chính là người đóng vai Trưởng bản A Sử trong bộ phim truyền hình 5 tập do Đài truyền hình Việt Nam thực hiện ở Hà Giang cách đây đã hơn 5 năm. Trong hơn men lá, kỷ niệm về “một lần đóng vai chính của phim” được ông hào hứng kể lại, khi biết chúng tôi là “nhà báo Trung ương” mới từ Hà Nội lên. Ông là Lương Triều Bắc, vốn gốc dân tộc Tày, là chủ nhân của nhà hàng Lương Gia. Qua chuyện mới biết, ông từng là bộ đội chuyển ngành. Cách đây hơn 5 năm khi đang là Đội trưởng đội chiếu bóng của Phòng Văn hóa Đồng Văn, ông được đạo diễn Lê Hà Sơn – khi ấy đang lúng túng tìm người thay thế cho vai Trưởng bản A Sử trong bộ phim dài tập “Trên Cổng Trời không có hoa anh túc” vô tình “túm” được khi ông đang ngồi… hút thuốc lào ở Phòng Văn hóa. Vai diễn thành công đã đem lại cho diễn viên không chuyên Lương Triều Bắc nhiều kỷ niệm nhưng cũng không ít tâm sự. Nhưng đó là một câu chuyện dài, chỉ biết rằng hiện ông đã được nghỉ chế độ do sức khỏe yếu và là chủ nhà hàng Lương Gia trên đường Sùng Dúng Lù, trước UBND huyện Đồng Văn.
Chiều ngày “tận thế” cũng là cuối tuần, sau buổi làm việc “kín lịch” với các cán bộ huyện Đồng Văn, chúng tôi lại có “bữa cơm vùng cao” với “những người bạn mới” trong một nhà hàng trên đường Phố Cổ. Rượu ngô lại rót tràn cùng những câu chuyện không đầu không cuối. Từ công tác chuẩn bị hàng hóa phục vụ bà con trong dịp “tết đến xuân về”, đến những phong tục tập quán mang tính truyền thống của các dân tộc và cả những kỷ niệm, dự định trong dịp tết được kể cho nhau nghe. Cũng trong bữa tiệc, tôi nhớ lại lới hứa với anh Bé “hói”. Nhưng khi được mọi người bảo “Hội nghị xong, các vị từ Thành phố lên đã trở lại Hà Giang”, tôi liền đọc đoạn thơ cảm tác tặng anh em:
Nghe đồn “tận thế” mà ghê
Tớ lên Lũng Cú, sướng tê cả người
Chào cờ xong, ghé Cổng Trời
Vừa hay Thượng đế vui chơi mới về
Gật gù, Người bảo “vẫn phê
Trần gian thú thế, cớ gì lại chê?”
Rượu ngô càng uống càng mê
Khoác vai, Người rủ: “trở về Đồng Văn”.
Tàn cuộc rượu ngô, chúng tôi trở về nhà công vụ để chuẩn bị cho những ngày làm việc tiếp theo, giữa lúc gió lạnh tăng cường. Trong giấc mơ chập chờn đêm đó, tôi thấy rất rõ những ánh nắng xuân ấm áp đang tràn lên các thửa ruộng bậc thang và cả cao nguyên đá./.

Cùng Danh Mục

Liên Quan Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *