Thiết chế luật sư tại Việt Nam có Lịch sử hình thành và phát triển thế nào

Ngay sau khi xâm lược Nam Kỳ, thực dân Pháp từng bước thiết lập bộ máy hành chính để quản lý các vùng đất đã chiếm được, trong đó có việc hoàn thiện bộ máy tư pháp theo mô hình của Cộng hòa Pháp. Ngày 26/11/1876, Thống đốc Nam Kỳ lúc đó là Chuẩn đô đốc Victor Auguste Duperré (Nam tước Dupérré) ban hành Nghị định về việc biện hộ cho thân chủ là người Pháp hoặc người Việt mang quốc tịch Pháp tại tòa án Pháp. Ngày 06/6/1884, bằng Hòa ước Pa-tơ-nốt (Patenôtre) được ký giữa triều đình nhà Nguyễn và Cộng hòa Pháp, Việt Nam đã trở thành thuộc địa của Pháp. Pháp chia Đông Dương ra thành 5 xứ: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Ai Lao, Cao miên.

(LSVN) – Trong hàng nghìn năm lịch sử của Việt Nam, dưới chế độ phong kiến, đất nước ta đã không có sự công bằng, dân chủ trong hoạt động tư pháp nói chung và trong xã hội nói riêng.
Điều này được thể hiện rõ nét ở việc dưới chế độ phong kiến, người duy nhất có quyền ban hành luật là vua, việc xét xử được thực hiện bởi các quan lại phong kiến và vua. Trong xã hội phong kiến đó, các thiết chế phản biện pháp luật nói chung và trong lĩnh vực tư pháp nói riêng không có cơ hội hình thành và phát triển. Khi người Pháp xâm lược Đông Dương và thiết lập ách thống trị lên mảnh đất này, cùng với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ngày càng mạnh mẽ thì mới từng bước được hình thành và dần phát triển.
ls thinh
Cho đến nay, thiết chế luật sư ở Việt Nam đã có trên 100 năm tồn tại và phát triển, trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử. Vậy thiết chế luật sư tại Việt Nam được bắt đầu hình thành từ khi nào? Quá trình tồn tại và phát triển ra sao?… Chúng ta cùng tìm hiểu trong một số nội dung nghiên cứu dưới đây của tác giả.
1. Giai đoạn 1858 – 1945
Ngay sau khi xâm lược Nam Kỳ, thực dân Pháp từng bước thiết lập bộ máy hành chính để quản lý các vùng đất đã chiếm được, trong đó có việc hoàn thiện bộ máy tư pháp theo mô hình của Cộng hòa Pháp. Ngày 26/11/1876, Thống đốc Nam Kỳ lúc đó là Chuẩn đô đốc Victor Auguste Duperré (Nam tước Dupérré) ban hành Nghị định về việc biện hộ cho thân chủ là người Pháp hoặc người Việt mang quốc tịch Pháp tại tòa án Pháp. Ngày 06/6/1884, bằng Hòa ước Pa-tơ-nốt (Patenôtre) được ký giữa triều đình nhà Nguyễn và Cộng hòa Pháp, Việt Nam đã trở thành thuộc địa của Pháp. Pháp chia Đông Dương ra thành 5 xứ: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Ai Lao, Cao miên.
Ngày 16/5/1906, toàn quyền Pháp tại Đông Dương lúc đó là Jean Baptiste Paul Beau ký Nghị định số 1514a cho phép thành lập trường đại học đầu tiên theo mô hình của Pháp tại Đông Dương. Theo quy định tại Nghị định nêu trên thì Viện Đại Học Đông Dương được tổ chức khởi đầu với 5 trường liên thuộc: 1. Trường Cao đẳng Luật và Pháp chính (École supérieure de Droit et Administration); 2. Trường Cao đẳng Khoa học (École supérieure des Sciences); 3. Trường Cao đẳng Y khoa (École supérieure de Médecine); 4. Trường Cao đẳng Xây dựng dân chính (École supérieure du Génie Civil); 5. Trường Cao đẳng Văn chương (École supérieure des Lettres). Trong đó thì Trường Cao đẳng Luật và Pháp chính là nơi đào tạo nhân sự bản xứ cung cấp cho bộ máy hành chính của Pháp tại Việt Nam.
Ngày 30/01/1911, Toàn quyền Pháp tại Đông Dương lúc đó là Antony Waladislas Klobukowski ký Sắc lệnh thành lập Đoàn luật sư Sài Gòn và Hà Nội, thành viên là các luật sư đã tốt nghiệp trường Luật ở Pháp, có quốc tịch Pháp. Chủ trương của Antony Waladislas Klobukowski là mở rộng nghề luật sư theo hướng không hạn chế chỉ người Pháp và người Việt mang quốc tịch Pháp mới được làm luật sư, mà còn có cả người Việt mang quốc tịch Việt cũng được làm luật sư nếu hội đủ các điều kiện theo luật định. Antony Waladislas Klobukowski cho phép mở trường Luật (École de Droit) với hai trụ sở tại Hà Nội và Sài Gòn, thời gian học là 02 năm. Trường luật khai giảng tại Hà Nội ngày 15/4/1910. Trong niên khoá 1911-1912 tại Hà Nội có 32 sinh viên và Sài Gòn có 18 sinh viên. Ngày 15/10/1917, Toàn quyền Pháp tại Đông Dương lúc đó là Albert Pierre Sarraut ký Nghị định thành lập Trường Luật và Pháp chính (Ecole de Droit et d’Administration).
Ngày 25/5/1930, Toàn quyền Pháp tại Đông Dương lúc đó là Pierre Marie Antoine Pasquyer ký Sắc lệnh tổ chức Luật sư đoàn ở Hà Nội, Sài Gòn và Đà Nẵng. Việc ký Sắc lệnh này thể hiện rõ sự chú trọng của Pháp đối với việc phát triển nghề luật sư tại Việt Nam bởi các quy định trong Sắc lệnh mở hơn so với các Nghị định trước đó. Mặt khác, về mặt hiệu lực thì Sắc lệnh có hiệu lực cao hơn so với Nghị định. Cụ thể, Sắc lệnh này mở rộng thêm cho các luật sư không chỉ biện hộ cho thân chủ có quốc tịch Pháp mà cho cả thân chủ không có quốc tịch Pháp; không chỉ biện hộ ở tòa án Pháp mà còn biện hộ cả ở tòa án bản xứ.
Giai đoạn 1930 – 1945 là thời kỳ bùng nổ nghề luật sư ở Việt Nam khi các luật sư du học tại Pháp trở về nước, cùng với một số lượng đông đảo những người được đào tạo ngành luật tại Trường Đại học Đông Dương, Hà Nội. Các luật sư tên tuổi thời kỳ này có thể kể đến là Phan Văn Trường (1876-1933), Trịnh Đình Thảo (1901-1986), Phan Anh (1912-1990), Trần Công Tường (1915-1990), Trương Đình Dzu (1917-1991), Vũ Trọng Khánh (1912-1996), Nguyễn Hữu Thọ (1910-1996), Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997), Nguyễn Văn Hưởng (1910-2001);….
Trong thời gian gần 80 năm hình thành và phát triển, kể từ năm 1876 đến năm 1955, thiết chế luật sư và hệ thống pháp luật của Pháp đã du nhập vào Việt Nam với những nguyên tắc pháp lý hoàn toàn mới mẻ so với quan niệm luật pháp truyền thống của phương Đông vốn tồn tại hàng ngàn năm dưới ảnh hưởng của Khổng giáo qua các triều đại phong kiến. Có thể nói rằng, việc Jean Baptiste Paul Beau cho phép mở Trường Cao đẳng Luật và Pháp chính đã đặt viên gạch đầu tiên cho một nền luật học dựa trên những nguyên tắc pháp lý theo quan niệm phương Tây, được hiểu bao gồm các hệ thống pháp luật điển hình trên thế giới lúc đó là hệ thống Luật Dân sự (Civil Law) của khối châu Âu lục địa, hệ thống Thông luật (Common Law) của khối Anglo-Saxon và hệ thống Luật xã hội chủ nghĩa (Sovietique) của Liên Xô.
2. Giai đoạn 1945 – 1954

Sắc lệnh số 46/SL

Ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 46/SL với nội dung cơ bản là duy trì tổ chức luật sư, trong đó đã có sự vận dụng linh hoạt các quy định pháp luật của chế độ cũ về luật sư nhưng không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa. Ngày 22/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 217/SL cho phép các thẩm phán đệ nhị cấp (tỉnh và khu) có bằng cử nhân luật khoa được bổ nhiệm sau ngày 19/8/1945, có thể ra làm luật sư mà không phải tập sự tại một văn phòng luật sư. Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn ban hành Sắc lệnh số 163/SL ngày 23/3/1946 về tổ chức tòa án binh cũng có quy định cho phép các bị cáo có quyền nhờ luật sư bào chữa.
Thực tế là trước khi Sắc lệnh số 46/SL được ban hành thì quyền bào chữa của bị can, bị cáo đã được ghi nhận tại Sắc lệnh số 33C ngày 13/9/1945 về việc thiết lập các tòa án quân sự, cụ thể Điều 5 quy định: “Bị cáo có thể tự bào chữa hay nhờ một người khác bênh vực cho”. Mặt khác, quyền được tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa của bị cáo đã được thừa nhận và thể hiện tại Điều 67 Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà như sau: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư”.
Tuy nhiên, do chính sách phát triển luật sư của Pháp trước đó dẫn đến số lượng luật sư ở Việt Nam sau cách mạng tháng tám rất ít. Mặt khác, vì hoàn cảnh kháng chiến nên một số luật sư đã tham gia cách mạng, một số thì chuyển sang hoạt động ở lĩnh vực khác. Chính vì vậy, vào thời kỳ này hầu như các văn phòng luật sư đều ngừng hoạt động. Do vậy, để bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong hoàn cảnh số lượng luật sư hạn chế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949, sau đó được thay thế bởi Sắc lệnh số 144/SL ngày 22/12/1949 với nội dung cho phép nguyên cáo, bị cáo và bị can có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bênh vực cho mình, cụ thể như sau: “Từ nay, trước tòa án việc xử hộ và thương mại, trước các tòa án thường và tòa án đặc biệt xử việc tiểu hình, đại hình, trừ tòa án binh tại mặt trận, nguyên cáo, bị cáo và bị can có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bênh vực cho mình. Công dân đó phải được Ông Chánh án thừa nhận”.
Để cụ thể hóa Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949, Bộ Tư pháp đã ban hành Nghị định số 1/NĐ-VY ngày 12/01/1950 quy định các điều kiện để làm bào chữa viên và phụ cấp của bào chữa viên nhằm phù hợp với điều kiện Việt Nam khi đó, thể hiện mục tiêu của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là xây dựng một nền tư pháp công bằng, dân chủ. Thực hiện quy định của pháp luật về bào chữa viên, trong suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và xây dựng miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam, đội ngũ bào chữa viên đã được hình thành và ngày càng phát triển. Bên cạnh các luật sư đã tham gia kháng chiến, thì nhiều luật sư, luật gia đã từng làm việc trong bộ máy của chế độ thực dân Pháp cũng hăng hái gia nhập đội ngũ bào chữa viên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
3. Giai đoạn từ năm 1954 đến nay
Sau Hiệp định Giơnevơ (Genève) năm 1954, Việt Nam bị chia cắt hai miền. Ở miền Nam, trường Đại học Luật khoa Huế, Đà Lạt, Sài Gòn của chế độ Việt Nam Cộng hòa đào tạo các cử nhân luật, một số sinh viên tốt nghiệp cử nhân luật được đào tạo tiếp để trở thành luật sư. Trong các tòa vi cảnh, tòa sơ thẩm, tòa đại hình, tòa thượng thẩm đều có công tố viên và có luật sư tranh luận, bào chữa bảo vệ thân chủ. Luật sư có quyền tham gia tại giai đoạn điều tra, giai đoạn xét xử và tranh tụng tại phiên tòa.
Ở miền Bắc, Hiến pháp 1959 được ban hành, tiếp tục khẳng định quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về quyền bào chữa để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Hiến pháp 1959 là cơ sở pháp lý để thiết lập hệ thống tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân, Bộ Tư pháp không còn tồn tại, công tác hành chính tư pháp được chuyển giao cho Tòa án tối cao đảm nhiệm, trong đó có công tác bào chữa. Điều 101, Hiến pháp 1959 quy định: “Quyền bào chữa của người bị cáo được bảo đảm”. Năm 1963, văn phòng luật sư thí điểm đầu tiên được thành lập, đặt tên là Văn phòng luật sư Hà Nội (Văn phòng luật sư).
Sau khi tổ chức Văn phòng luật sư, tình hình yêu cầu luật sư bào chữa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trước tòa ngày càng tăng. Lúc đầu luật sư nhận bào chữa những vụ án do tòa án chỉ định, về sau các bị cáo, đương sự có nhu cầu mời luật sư thì trực tiếp đến Văn phòng luật sư. Năm 1972, Ủy ban pháp chế của Chính phủ được thành lập, năm 1974 Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao Văn phòng luật sư sang Ủy ban pháp chế của Chính phủ để quản lý theo chức năng quy định tại Nghị định 190/CP ngày 9/10/1972.
Ngày 30/4/1975, đất nước thống nhất, năm 1980 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời tiếp tục khẳng định quyền bào chữa của bị cáo. Bên cạnh đó, Hiến pháp 1980 còn quy định về việc thành lập tổ chức luật sư để trợ giúp tổ chức, cá nhân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời với việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Sau khi có Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập lại Bộ Tư pháp, ngày 22/11/1981, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định 143-HĐBT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp có nhiệm vụ quản lý hoạt động hành chính tư pháp trong đó bao gồm cả hoạt động của luật sư. Ngày 31/10/1983, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 691/QLTPK hướng dẫn về công tác bào chữa với nội dung quy định là ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng đã có tổ chức luật sư, bào chữa thì củng cố lại về tổ chức, quản lý chặt chẽ hơn. Còn ở các tỉnh khác nếu có đủ điều kiện và được ủy ban nhân dân tỉnh cho phép thì thành lập Đoàn bào chữa viên nhân dân. Đến cuối năm 1987, cả nước đã có 30 tỉnh, thành phố thành lập Đoàn bào chữa viên nhân dân và Đoàn luật sư với gần 400 bào chữa viên. Riêng Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh thì thành lập Đoàn luật sư.
Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI diễn ra năm 1986 đã tác động sâu rộng đến mọi mặt đời sống xã hội Việt Nam lúc đó, trong đó có hoạt động tư pháp. Để cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo trên, nhiều đạo luật về tố tụng đã được ban hành theo hướng mở rộng dân chủ trong hoạt động tố tụng, bảo đảm quyền bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trước tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng khác. Ngày 18/12/1987, Hội đồng Nhà nước (nay là Chủ tịch nước) đã thông qua Pháp lệnh Tổ chức luật sư (PLTCLS). PLTCLS là cơ sở pháp lý quan trọng về thiết chế luật sư, tạo cơ sở cho việc hình thành và phát triển đội ngũ luật sư ở Việt Nam. Từ 186 luật sư năm 1989 đến ngày 30/9/2001, số luật sư trong cả nước là 2.100 luật sư. Nhìn chung, số lượng luật sư thời kỳ này trong cả nước tăng chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội phát triển. Sở dĩ có tình trạng này là do đội ngũ những người có đủ điều kiện gia nhập Đoàn luật sư còn ít, các quy định của PLTCLS, Quy chế Đoàn luật sư và bản thân hoạt động của các Đoàn luật sư vẫn chưa tạo thuận lợi, chưa thực sự hấp dẫn nên chưa thu hút được đông đảo những người có đủ điều kiện gia nhập Đoàn luật sư. Mặt khác, một số Đoàn luật sư chưa quan tâm thích đáng đến công tác phát triển luật sư. Các thiết chế kinh tế, chính trị, xã hội chuyển mình chậm cũng là nguyên nhân dẫn đến số lượng luật sư phát triển chậm.
Nếu như PLTCLS có vai trò quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành đội ngũ luật sư ở nước ta trong thời kỳ đổi mới thì Pháp lệnh Luật sư số 37/2001/PL-UBTVQH1 ngày 25/7/2001 là bước tiến quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thiết chế luật sư ở nước ta, đưa thiết chế luật sư của nước ta xích gần hơn với thông lệ quốc tế. Nội dung của Pháp lệnh thể hiện quan điểm cải cách mạnh mẽ tổ chức và hoạt động luật sư theo hướng chuyên nghiệp hoá đội ngũ luật sư và nghề luật sư, tăng cường vai trò tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp kết hợp với quản lý của Nhà nước, tạo cơ sở pháp lý cho quá trình hội nhập quốc tế của nghề luật sư ở Việt Nam. Với nội dung tiến bộ, phù hợp với yêu cầu khách quan, hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư đã có bước phát triển đáng kể, đặc biệt là tư vấn cho khách hàng trong các lĩnh vực như đầu tư, kinh doanh, thương mại ngày càng nhiều, chất lượng dịch vụ được nâng cao.
Ngày 07/11/2006, Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO) đã tạo ra những cơ hội mới để phát triển đất nước và song hành với nó là những thách thức đặt ra đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, mà nhiệm vụ quan trọng là phải xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và các thiết chế liên quan cùng với cơ chế vận hành theo lộ trình phù hợp với các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO. Để thực hiện nhiệm vụ và lộ trình đó, trong các năm 2005, 2006, 2007, Việt Nam đã ban hành một số lượng lớn các đạo luật mới hoặc sửa đổi, bổ sung các đạo luật cũ, không còn phù hợp, trong đó có việc ban hành Luật Luật sư số 65/2006/QH11 ngày 29/6/2006. Luật số 20/2012/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư số 65/2006/QH11.
Ngày 16/01/2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 76/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Thành lập Tổ chức Luật sư toàn quốc” và để thực hiện Đề án này, ngày 04/6/2008, Hội đồng lâm thời luật sư toàn quốc đã chính thức ra mắt tại Hà Nội. Hội đồng lâm thời gồm 15 luật sư tiêu biểu đại diện cho các Đoàn luật sư của các vùng, miền trong cả nước. Đại hội Đại biểu luật sư toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội đã thông qua việc thành lập Liên đoàn vào ngày 12/5/2009. Kể từ đây, giới đã có một tổ chức thống nhất trong phạm vi toàn quốc.
Ngày 14/01/2013, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 149/QĐ-TTg, lấy ngày 10/10 hằng năm là ngày truyền thống của luật sư Việt Nam. Như vậy, sau hơn 100 năm hình thành và phát triển, trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, giới luật sư Việt Nam chính thức có ngày lễ trang trọng của mình

Cùng Danh Mục

Liên Quan Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *