Thầy kiện trong vụ án Trê, Cóc có bí ẩn gì

Học giả Đào Duy Anh, trong Việt Nam văn hóa sử cương có nhận xét:“Nhà lập pháp thời quân chủ dụng tâm làm cho dân bớt kiện tụng như gia tội những người chống án không căn cứ, cấm nghề thầy kiện, thầy cung…”. Nhưng trong mọi thời đại có pháp luật thì việc “tư vấn pháp luật” lại là một yêu cầu thực tế bức xúc của quần chúng nhân dân. Dù việc chỉ dẫn “đường đi nước bước” trong quá trình tố tụng không được coi là một nghề chính đáng, song trong xã hội vẫn tồn tại các… “thầy kiện chui”. Qua công việc này, “thầy kiện” vừa giúp cho nhiều người được việc mà kèm theo đó họ cũng được thù tạc lợi ích vật chất như bánh, trái, rượu, chè, thậm chí cả tiền bạc…

LTS: Dưới thời quân chủ phong kiến, “xui nguyên dục bị” bị coi là một hành vi xấu xa, trái đạo đức, trái pháp luật, nên đều bị cấm. Chiếu về phép thi hương tháng 4 năm Nhâm Nhọ (1462), triều đình nhà Lê ra lệnh: “Những kẻ xui nguyên dục bị đều không được đi thi” (nghĩa là không được tham dự vào việc quan, việc nước).
Truyện_Trê_Cóc_-tranhDongHo

Học giả Đào Duy Anh, trong Việt Nam văn hóa sử cương có nhận xét:“Nhà lập pháp thời quân chủ dụng tâm làm cho dân bớt kiện tụng như gia tội những người chống án không căn cứ, cấm nghề thầy kiện, thầy cung…”. Nhưng trong mọi thời đại có pháp luật thì việc “tư vấn pháp luật” lại là một yêu cầu thực tế bức xúc của quần chúng nhân dân. Dù việc chỉ dẫn “đường đi nước bước” trong quá trình tố tụng không được coi là một nghề chính đáng, song trong xã hội vẫn tồn tại các… “thầy kiện chui”. Qua công việc này, “thầy kiện” vừa giúp cho nhiều người được việc mà kèm theo đó họ cũng được thù tạc lợi ích vật chất như bánh, trái, rượu, chè, thậm chí cả tiền bạc…
Tạp chí Luật sư Việt Nam giới thiệu bài tư liệu này để thấy được phần nào thực trạng xã hội cũ, cùng phản ứng của con người trong hoàn cảnh ấy qua hồ sơ của một vụ “đáo tụng đình” vào những thế kỷ trước.
Cách nay mấy thế kỷ, trên diễn đàn văn chương cổ điển Việt Nam đã xuất hiện một tập thơ nôm tựa đề “Truyện Trê Cóc”[1], không biết tác giả là ai[2]. Trong quyển truyện thơ ngụ ngôn gồm 396 câu thơ lục bát này, tác giả đã mượn các con vật cùng các hiện tượng có thật để mô tả lại một hiện thực xã hội, diễn ra một cuộc tranh chấp dân sự trong nội bộ nhân dân, có sự tham gia của hai nhân vật “thầy kiện” dưới chế độ phong kiến mà hầu hết quan, lính từ trên xuống dưới đều tham ô nhũng lạm…
Nén bạc đâm toạc tờ giấy!
Bữa nọ, Cóc đẻ trứng xuống ao. Khi trứng cóc nở ra bầy nòng nọc, cá Trê trông thấy giống mình, đem cả đàn về nuôi nhận làm con.
Nhìn xem dạ những mừng thầm,
Giống Trê như lột chẳng lầm vẻ chi.
Bắt về yêu dấu bù trì,
Con nuôi cũng chẳng khác gì con sinh.
Sau đó, Cóc ra bờ ao thăm con không thấy, liền nhảy xuống ao tìm. Trê thấy động nước, lội ra đuổi Cóc đi, lại còn mắng nhiếc Cóc thậm tệ.
“Cóc kia! đâu đó tối tăm?
Dạ gian phi đạo tắc dâm chẳng lành[3]
Cóc tức giận trở về bàn với chồng đi kiện cá Trê, cho dù có hao tốn bao:
“Khuyên chàng chớ nghĩ thấp cao,
Công bao cũng chịu, của bao cũng đành”
Vợ chồng Cóc tìm đến quan Tri phủ Hải Giang. Việc đầu tiên là phải đóng lệ phí thì quan mới tiến hành vụ án:
Các thầy vâng lệnh trở ra,
Đòi tiền thông lệ bản nha tức thì.
Trong đơn kiện, Cóc nêu tên các nhân chứng như: cá Chép, Mè, Măng, Trắm…
Nghe quan cho lệnh lính đến gọi, Trê sợ quá, dù không có sẵn tiền cũng van xin nhờ lính lo giúp cho xong chuyện:
Vì ai nên phải tiếng oan,
Giám xin mấy cậu, liệu đường giúp cho,
Chữ rằng: “Nhất nhật tại tù”,
Hết bao nhiêu cũng xin lo dám nề.
Đến cửa quan, Trê phân giải đủ điều để kêu oan. Quan cho đòi nhân chứng thì Mè, Măng, Trắm, Chép đều thống nhất khai giống nhau:
“Chúng tôi thật kẻ vô tình,
Xưa nay vẫn thật hiền lành biết chi…”
Lúc bấy giờ, quan cũng không biết sao: Cóc ở trên bờ, Trê ở dưới nước, làm sao Trê bắt được con của Cóc. Song nếu Cóc không mất con, sao lại thưa Trê… Dù vậy, quan vẫn ra lệnh giam Trê lại để hậu xét.
Quan truyền: “Cho Cóc lui ra,
Đem Trê giam đó hậu tra vội gì”.
Lệ binh vâng lệnh tức thì,
Trong lúc chồng bị giam, vợ Trê liền “lặn suối trèo ghềnh” tìm đến nhà Triều Đẩu (cũng là một loài cá) nhờ … mách nước. Triều Đẩu chỉ vợ Trê đến gặp “đàn em” của mình là Lý Ngạnh để giúp cho. Lý Ngạnh nói… việc quan không khó, nhưng muốn nhanh phải có này nọ “kha khá” mới được.
Trê y lời, mang lễ vật theo Lý Ngạnh đến công đường.
“Gọi là lễ mọn kính dâng,
Dám xin soi xét phận dân ngu hèn…”.
Quan xem đơn của Cóc thấy còn tình tiết chưa rõ ràng, bèn cho đòi hai bên cùng đến để đối chất cho ra lẽ.
“Cứ trong tình lý mà suy,
Thời như đơn Cóc có khi cũng huyền[4].
Cho đồng đối tụng hai bên,
Có bên bị, có bên nguyên mới tường”
Để rõ trắng đen, quan cho nha lại xuống cơ sở thẩm tra tại chỗ. Đoàn kiểm tra đi thực địa về trình báo lại: nòng nọc giống hệt cá Trê, rõ ràng Trê bị oan, chẳng còn nghi vấn gì nữa… Đọc xong báo cáo của đoàn kiểm tra, quan giận rồi ra vẻ bênh Trê ngay tình:
Quan truyền bắt Cóc ra tra:
“Sao bay đơn kiện sai ngoa làm vầy
Nay đơn nha khám về đây
Trê kia là đứa tình ngay có gì!”
Cóc đổ thừa tại đoàn kiểm tra ăn hối lộ của Trê nên mới báo cáo như vậy. Rốt cuộc Cóc bị tống giam chờ xét…
Cóc ngồi dài thở ngắn than,
Những là tức ruột, căm gan cho đời.
Trọng chứng hơn trọng cung
Vợ chồng Cóc trằn trọc suốt đêm không tài nào ngủ được, bàn nhau phải tìm cách “chạy” mới được.
“Phải tìm thầy thợ cho mau,
Để cho thiếp được trước sau rõ mười
Đua nhau cái trí mà thôi,
Tốt ăn thì được, xấu mồi thì thua”
Vợ Cóc về nhà chạy chọt khắp nơi. “Thôi lặn suối, lại trèo nương/Giếng sâu bụi rậm, lòng càng ngẩn ngơ”…
May thời vợ Cóc gặp Ếch đang dạo chơi. Nghe Ếch gọi hỏi, Cóc tình thật tâm sự: đang khổ vì chồng con gặp nạn.
Trê kia là đứa gian manh,
Bắt con mà lại sinh tình sai ngoa.
Làm đơn đút lót quan nha,
Vậy nên Cóc phải giam tra thế này.
Nghe cảm động, Ếch bèn ngỏ lời mách vợ Cóc đến nhờ chỗ Thầy kiện tư vấn giúp cho:
Nghề tay thầy kiện trứ danh,
Có chàng Nhái Bén thực anh bợm già.
Đơn từ, mẹo mực vào ra,
Bàn tay tráo trở coi đà ngon không.
Muốn cho các việc mau xong,
Phải tìm cho đến hỏi cùng sự duyên.
Vợ Cóc kể hết sự tình cho “Thầy kiện trứ danh”. Nghe xong, Nhái Bén bèn ôn tồn giải thích:
“Thôi đừng kiện cáo chi nhau,
Con đương dưới nước, dễ hầu làm chi.
Để cho Trê nó bù trì,
Đứt đuôi nó lại tìm về là hơn.
Đúng như lời Nhái Bén chỉ dẫn, vợ Cóc đến căn dặn chồng yên trí chờ. Đến ngày đám nòng nọc đứt đuôi thành cóc con, vợ Cóc dẫn lũ con đến trình quan phủ xin cho chồng về. Quan phủ nổi giận đòi Trê đến công đường, chiếu theo pháp luật, xử phạt Trê lưu đày 3.000 dặm (tam thiên lý).
Thắng kiện, Cóc dâng lễ vật tạ ơn. Quan không nhận mà trả lại hết cho Cóc.
Quan rằng: “Thôi chớ ân cần,
Thế thời cũng đã có phần hậu thay.
Khéo đâu lễ vật đặt bày,
Biết thôi, trả lại cho bây đem về”.
Vợ chồng Cóc mừng rỡ ra về. Vừa bước ra khỏi chỗ quan thì bao nhiêu nha lại, lính láp xúm nhau kể công đòi quà.
Bước ra khỏi chốn công đường
Thông Chiên dật lễ, Đề Tôm cướp tiền.
Ôm đầu vỗ vế ngả nghiêng,
Kẻ đòi bầu rượu, người xin bao chè.
Thắng vụ kiện này ai cũng vui. Bà con họ hàng Cóc mở tiệc náo nức. “Thầy kiện” cũng được mời đến cùng chung vui…
Chè sen, rượu cúc thảnh thơi,
Cóc ngồi chịu chuyện, Bén ngồi ngâm thơ.
Lời bàn sau vụ án
Thời nào cũng vậy, hễ tranh tụng thì chứng cứ khách quan là cái yếu tố quyết định. Dù cho người đời thường nói: “Nén bạc đâm toạc tờ giấy”, “Có tiền mua tiên cũng được”,… Song qua vụ án này, cũng như nhiều vụ án khác, của hối lộ thường chỉ là… chất bôi trơn thôi. Có tiền, gặp việc khó có thể người ta làm cho mình nhanh; gặp trường hợp “năm ăn năm thua”, thậm chí có khi “hai, ba ăn; bảy, tám thua”, mà đã chung tiền rồi thì người ta cũng ráng tìm cách cho mình thắng… Mình thắng thì họ được. Vì có nhiều quan tham nên từ lâu đã có câu: “Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ”.
Nhưng mà, một khi có được đầy đủ chứng cứ khách quan rồi thì phần thắng ắt về mình. Tính quy luật đã khẳng định trong lời tư vấn của Nhái Bén. Quả là thầy kiện trứ danh!
Cũng đáng khen cho “thầy kiện trứ danh” Nhái Bén không xúi dục thân chủ kiện tụng lung tung, bậy bạ; ông còn có lương tâm, đạo đức nghề nghiệp nên đã thật thà khuyên bảo thân chủ đúng quy luật và đúng pháp luật; ân cần chỉ cho thân chủ biết rõ sự việc sẽ như vậy để có thể lạc quan chờ kết quả thắng lợi; chứ còn gặp phải hạng “thầy dùi” thiếu lương tâm, mặc dù thấy chứng cứ thắng lợi rõ ràng – thấy cái quy luật khách quan tất yếu theo luật tự nhiên rồi mà “thầy” vẫn tìm cách chỉ dẫn loanh quanh, có khi tìm cách lừa phỉnh, đe dọa thân chủ, để hòng khi cái tất yếu xảy ra thì “thầy” lại vòi vĩnh… kiếm thêm!
Trong truyện này, tác giả khéo tả hai dạng thầy kiện điển hình: Lý Ngạnh giúp đỡ Trê và Nhái Bén đứng về phía Cóc. Họ có phong cách làm việc rất khác nhau, nhưng chỉ Nhái Bén mới được đánh giá là “thầy kiện trứ danh”.
Suy cho cùng, thầy kiện thời xưa, luật sư đời nay đều được xã hội trọng vọng, coi như người thầy, có vai trò rất quan trọng.

Cùng Danh Mục

Liên Quan Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *