Những bài học còn mới cho ngành tư pháp và Vụ án Tạ Đình Đề

Trong vụ án thứ nhất, Tạ Đình Đề phạm vào tội cố ý làm trái. Tại cơ quan điều tra, định kiến trong khi điều tra là một phần lý do dẫn đến oan trái cho ông. Nội dung vụ việc là: Trước tình hình nhiều công nhân trong đơn vị không mặn mà với công việc được giao khiến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm rất thấp.

Vào thời chiến, Tạ Đình Đề dưới con mắt của nhân dân được truyền tụng cho nhau nghe với đủ mọi huyền thoại. Nhưng cũng con người ấy, vào thời bình (khi đất nước mới hòa bình lập lại) đã dám mạnh dạn đứng lên làm kinh tế, thì lại bị khép tù oan trái. Lần thứ nhất, Tạ Đình Đề bị bắt giam suốt gần hai năm, rồi truy tố ra tòa với ba trọng tội: Tham ô tài sản XHCN, Cố ý làm trái và hối lộ. Lần thứ hai, tội xâm phạm an ninh quốc gia. Tạ Đình Đề bị bắt, thả, tạm tha, rồi kết luận không có tội… Hành trình lao lý lạ kì và hành trình tố tụng đã để lại bài học sâu sắc cho nền tư pháp.
1434394601-ta_dinh_de_yhip
Trong vụ án thứ nhất, Tạ Đình Đề phạm vào tội cố ý làm trái. Tại cơ quan điều tra, định kiến trong khi điều tra là một phần lý do dẫn đến oan trái cho ông. Nội dung vụ việc là: Trước tình hình nhiều công nhân trong đơn vị không mặn mà với công việc được giao khiến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm rất thấp. Ông Đề đã mất ăn mất ngủ suy nghĩ, trằn trọc. Sau nhiều đêm trằn trọc, ông đã đưa ra sáng kiến áp dụng hình thức khoán sản phẩm, khoán công việc đến từng tổ sản xuất, từng người công nhân và được công nhân viên nhất trí… Sau đó ông Đề chi thưởng cho người nào có sáng kiến, cải tiến, chi mua kĩ thuật, chi tiếp khách, chi bồi dưỡng và chi thưởng cho mỗi cán bộ, công nhân viên của xưởng dụng cụ cao su, mỗi người ½ tháng lương hết 10.000đ. Ông nói về việc mình từng khai nhận: “Tôi không chuẩn bị gì đâu. Sự thật diễn ra trong thực tế ra sao thì khai báo đúng thế”. Thế nhưng tại cơ quan điều tra, mỗi lần ông Đề đưa ra các chứng cứ để bảo vệ quan điểm của mình thì sự buộc tội của Cơ quan điều tra lại càng gay gắt và nặng nề hơn.
Khi vụ án chuyển sang cơ quan truy tố, Tạ Đình Đề đặt niềm tin rất lớn vào cơ quan giám sát pháp luật. Thành khẩn khai báo nhưng khi đọc bản cáo trạng, ông Đề đã bị choáng váng về những quy kết theo kiểu suy diễn. Cơ quan truy tố quyết định việc Tạ Đình Đề bị đưa ra tòa án sơ thẩm với bản cáo trạng: “Thấy việc gì có lợi cho đơn vị mình phụ trách thì bất kể là móc ngoặc, xin nhượng, mua bán đổi chác… là tiến hành. Thấy mặt hàng gì có khả năng tổ chức sản xuất thì tung tiền ra mua kỹ thuật về sản xuất”.

Nói về cuốn sách “Tạ Đình Đề – Những góc khuất cuộc đời” – Tiến sĩ Đặng Quang Phương – Nguyên Phó chánh án TAND Tối cao chia sẻ: Đây là tác phẩm có giá trị nhân bản cao. Mỗi người đọc xong tác phẩm này sẽ có nhiều suy ngẫm…Nếu là cán bộ tư pháp cũng phải tự kiểm nghiệm, đảm bảo cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử phải công khai, minh bạch, dân chủ, công tâm, khách quan; vừa đấu tranh kiên quyết, kịp thời với các loại tội phạm, vừa không được làm oan cho bất cứ người nào, thực hiện có hiệu quả Chiến lược Cải cách tư pháp trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam”.

Những ngày nằm trong trại chờ xét xử, ông Đề thất vọng với cơ quan truy tố. Hồ sơ vụ án được xây dựng không khách quan, cố tình suy diễn theo chiều hướng buộc tội nhưng chẳng những không được cơ quan truy tố phát hiện, khắc phục mà họ còn đồng tình rất cao với cơ quan điều tra.. Càng nghiên cứu bản cáo trạng và quyết định phê chuẩn cáo trạng của Viện kiểm sát tôi càng thấy rõ một điều: Các kiểm sát viên trong vụ án này, dường như trở thành người hợp thức hóa cho cơ quan điều tra. Như vậy, làm sao thực hiện đúng chức năng của ngành kiểm sát, đảm bảo tính khách quan, thận trọng, không làm oan người vô tội?”.
Tòa án cần độc lập trong xét xử
Mặc dù cả ở giai đoạn điều tra lẫn truy tố mang định kiến rất lớn với ông Đề. Thế nhưng, tại phiên tòa xét xử ông Đề, Thẩm phán Phùng Lê Trân đã thể hiện thái độ độc lập trong xét xử của tòa án. Tại phiên tòa xét xử, bà Thẩm phán Phùng Lê Trân đã phân tích: Báo cáo của Đoàn Thanh tra liên bộ chưa có căn cứ để tin. Xét về nguyên tắc thì không có quyết định thành lập Đoàn Thanh tra liên bộ. Báo cáo thanh tra không có ngày tháng, không ghi những ai, tên gì, của cơ quan nào được cử tham gia đoàn thanh tra. Không ghi ai là Trưởng đoàn, đoàn gồm có mấy người… nên không thể xem đây là văn bản có giá trị pháp lý. Hơn nữa, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải – Dương Bạch Liên trong Công văn số 72 ngày 04/12/1974 khẳng định: “Có những việc liên quan đến Tổng Cục Đường sắt và Bộ có trách nhiệm, không phải Giám đốc Xưởng tự ý làm”. Điều đó đã chỉ ra những “khuất tất” lạ lùng trong việc bắt giam ông Đề và chứng minh những việc ông Đề làm là có chỉ đạo từ cấp trên.
“Phiên tòa kéo dài 6 ngày trở thành một sự kiện chấn động dư luận thời bấy giờ. Tổng Cục trưởng Tổng Cục Đường sắt Hà Đăng Ấn cho công nhân Xưởng Dụng cụ Cao su Đường sắt nghỉ việc để đi tham dự phiên tòa. Nhiều anh em công nhân ôm hoa đứng ở Cổng Hỏa Lò để tặng Tạ Đình Đề khi công an dẫn ông sang Tòa án. Quảng trường Tòa án ngày nào cũng đông nghịt người theo dõi phiên tòa. Qua quá trình điều tra, xét xử, cuối cùng tòa cũng đưa ra kết luận cuối cùng: Tạ Đình Đề vô tội… Câu chuyện về ông Đề được tha bổng tại phiên tòa trong những ngày đầu tháng 6/1976, khiến hàng nghìn người vỡ òa trong hạnh phúc. Cảnh tượng có một không hai đó như ánh hào quang tỏa sáng lung linh xung quanh ông, càng tô đậm chất huyền thoại về Tạ Đình Đề”, TS. Dương Thanh Biểu (Nguyên Phó Viện trưởng VKSNDTC) viết lại.
Những quan điểm “lơ lửng” của cơ quan tư pháp dẫn đến hậu quả đau đớn…cho người dân

Nói về tính thời sự của những bài học tư pháp từ vụ án Tạ Đình Đề và nhìn nhận vấn đề tổng quát hơn, Trung tướng GS.TS Nguyễn Xuân Yêm, Giám đốc Học viện Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an chia sẻ: Tại sao có oan sai? Từ vụ án Tạ Đình Đề và một số vụ án hình sự có oan sai trong những năm qua cho chúng ta thấy nguyên nhân cơ bản nhất và lớn nhất là từ con người, từ người cán bộ Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán… Họ nhận nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử một vụ án hình sự đều có một tâm lý nhanh chóng muốn vạch mặt kẻ phạm tội, bắt kẻ phạm tội chịu hình phạt hình sự nghiêm khắc. Tuy nhiên thực tế kẻ phạm tội ngày càng có các thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, che dấu hành vi phạm tội. Trong điều kiện trình độ cán bộ tố tụng có hạn, không có những phương tiện kỹ thuật hỗ trợ, một số ít với tâm lý nôn nóng bắt bị can, bị cáo phải phục tùng mình, họ đã viện dẫn tới một số biện pháp bị pháp luật ngăn cấm… Một số vụ án lại do nhận thức chưa đúng nên đã định hướng sai từ đầu. Một số vụ án hình sự sai ở khâu điều tra, nhưng khi tiếp nhận vụ án Kiểm sát viên lại quá tin tưởng vào các “chứng cứ “ do Cơ quan điều tra thu thập nên lập cáo trạng chỉ dựa vào kết quả của giai đoạn điều tra. Ra Tòa, Thẩm phán lại hoàn toàn tin tưởng vào kết quả điều tra, cáo trạng và…cuối cùng đã tuyên án đối với người vô tội. Đại diện cơ quan tiến hành tố tụng chỉ quan tâm nhiều đến việc buộc tội mà xem nhẹ việc gỡ tội nên những sai phạm xảy ra ở không ít vụ án hình sự. Vấn đề tranh tụng tại Tòa án ít được quan tâm. Vai trò của luật sư trong quá trình tố tụng bị xem nhẹ….
Lần thứ hai, ông Tạ Đình Đề lại bị bắt về một trọng tội “tuyên truyền chống chủ nghĩa xã hội”. Có nhiều luồng quan điểm khác nhau về việc ông Đề có tội, hay không có tội, hoặc nửa phạm tội, nửa đáng tha… Nghiên cứu hồ sơ và kết quả điều tra số 11547/A24 ngày 29/11/1986 của cơ quan điều tra, đề nghị truy tố Tạ Đình Đề phạm tội tuyên truyền chống chế độ xã hội chủ nghĩa, quan điểm của cơ quan cảnh sát điều tra là Tạ Đình Đề có tội.
Còn Viện kiểm sát, càng đi sâu nghiên cứu càng thấy những chứng cứ kết tội cho bị can Tạ Đình Đề vẫn chỉ gồm các tài liệu cũ. Nhìn lại nội dung vụ việc thì Tạ Đình Đề đã thừa nhận có đọc một số câu ca dao, hò vè mỉa mai thời bao cấp nhưng không nhằm mục đích cá nhân. Thời điểm đó, hoàn cảnh của Tạ Đình Đề cũng rất đặc biệt: Sau khi bản án sơ thẩm (phiên tòa do thẩm phán Phùng Lê Trân xét xử tuyên ông vô tội – PV) bị kháng nghị, yêu cầu Tòa án nhân dân tối cao xét xử phúc thẩm, ông đã chờ đợi suốt 10 năm mà tòa án nhân dân tối cao vẫn không đưa ra xét xử. Việc tòa án chậm chễ trong việc đưa vụ án ra xét xử dẫn đến hậu quả tai hại cho ông. Đó là, ông Đề mất việc làm, các con và gia đình ông bị người đời đố kị, khinh bỉ một cách ghẻ lạnh. Như vậy, việc ông Đề có đọc các câu ca dao hò vè ấy thì cũng dễ hiểu và hoàn toàn xuất phát từ động cơ bất mãn chứ không phải để nhằm chống lại chế độ xã hội. (Đó là những quan điểm manh nha ban đầu cho rằng ông Đề không có tội -PV).
Có một quan điểm trung dung khác đó là vì Tạ Đình Đề còn đang bị kháng nghị trong một vụ án khác, thế nên không nên đưa vụ án này ra truy tố, xét xử mà chuyển sang biện pháp xử lý tập trung cải tạo ?! Việc này, với ông Đề, nếu ông bị tập trung cải tạo kéo dài có thể chết trong trại giam. Đó là biện pháp tàn nhẫn… ông Biểu đánh giá.
Hai cơ quan tiến hành tố tụng là cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát đã có những quan điểm đánh giá chứng cứ khác nhau nên chưa có cơ sở kết luận có tội hay không có tội. Thế nhưng quan điểm ông Đề không có tội dựa trên nội dung vụ việc, không phải là quan điểm được bảo vệ mạnh mẽ ngay từ đầu, điều đó dẫn đến việc ông Đề phải “bó gối” trong trại giam một thời gian rất dài.
Là người làm công tác pháp luật, sau khi thấy những tình tiết trên, ông Biểu đánh giá: Việc những quan điểm lơ lửng của cơ quan điều tra và VKS trên dẫn đến hệ lụy VKSNDTC phê chuẩn gia hạn tạm giam kéo dài với Tạ Đình Đề… đó cũng là hữu khuynh, không làm đúng bổn phận là cơ quan giám sát pháp luật. Mãi sau này, đề xuất của vụ 2C thuộc VKSNDTC cho rằng hành vi của Tạ Đình Đề không phạm tội, cần được đình chỉ điều tra. Sau đề xuất này ông Đề được tạm tha. Những đau đớn hằn sâu lên cuộc đời và số phận Tạ Đình Đề lại không dừng ở đó. Gian khó quá, vợ ông phải bán nhà sau 2 năm ông ở trại giam. Ông bị khai trừ khỏi Đảng… Thật đau đớn cho số phận một con người.
Việc để “lơ lửng” vụ án ở đình chỉ điều tra và tạm tha mà chưa kết luận không có tội từ 1986 đến 1989 gây ra đủ mọi phiền toái cho ông. Mãi sau này (vào giữa năm 1989 khi quyết định tạm tha được gần 2 năm) thì VKSNDTC mới thực sự công nhận ông Đề không có tội. Vòng lao lý của ông Đề mới dừng lại. Ngành VKS một lần nữa phải rút kinh nghiệm trong việc dùng từ ngữ trong các quyết định của mình …
Và những bài học còn mới cho
Hành trình lao lý lần thứ nhất của Tạ Đình Đề được T.S Dương Thanh Biểu cắt nghĩa: Có nhiều nguyên nhân, hãy tạm gác lại những nguyên nhân thuộc về cá nhân như thiếu trách nhiệm, đố kị, tư thù… thì có một nguyên nhân sâu xa là: Các quy định pháp luật cũng như đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ làm công tác tư pháp ngày đó nói riêng chưa theo kịp và không bắt nhịp với công cuộc đổi mới đang bắt đầu mở ra. Giữa lúc kinh tế được “cởi trói” để “bung ra” tạo cơ hội phát triển, thoát cảnh hiểm nghèo thì không ít người nắm quyền lãnh đạo hoặc nắm quyền quyết định trong các hoạt động tư pháp lại sử dụng luật lệ cũ có từ thời bao cấp để chi phối toàn bộ quá trình kinh tế, xã hội, thậm chí cả quá trình hoạt động tư pháp bằng tư duy xơ cứng của họ. Và không ít những người phải chịu hậu quả đau đớn của tình trạng, trong đó có Tạ Đình Đề.
Nói về những điểm cần duy trì và phát huy của ngành tư pháp qua vụ án Tạ Đình Đề, ông Dương Thanh Biểu nhắc đến: Thứ nhất là phiên tòa xét xử Tạ Đình Đề do thẩm phán Phùng Lê Trân chủ tọa có thể nói là biểu tượng của văn minh tư pháp. Phiên tòa đã xảy ra cách đây nửa thế kỉ nhưng các nguyên tắc về tranh tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội, về sự độc lập của thẩm phán vẫn là mẫu mực cho đến ngày nay. Thứ hai là tinh thần đấu tranh không khoan nhượng của các Kiểm sát viên để giải oan cho Tạ Đình Đề (trong vụ án lần thứ hai ông Đề bị bắt) lại là điểm sáng về lương tâm và trách nhiệm của ngành Kiểm sát nhân dân
Qua vụ án Tạ Đình Đề, bài học về nguyên tắc độc lập trong điều tra, truy tố, xét xử vẫn còn mới: Công tác phối hợp giữa các cơ quan pháp luật là cần thiết nhưng nó như con dao hai lưỡi. Phối hợp đúng nguyên tắc pháp luật thì sẽ góp phần giúp giải quyết vụ án kịp thời và chính xác. Nhưng nếu phối hợp để làm mất đi tính độc lập trong xét xử của tòa án là vi phạm pháp luật, rất dễ dẫn đến oan sai của cả hệ thống tư pháp… Nhận định “quy định của Hiến pháp về tính độc lập của thẩm phán trong xét xử là sự tiến bộ, văn minh, dân chủ về thượng tôn pháp luật nhưng trong thực tiễn gặp vô cùng khó khăn…” Ts Dương Thanh Biểu nhận định.

Cùng Danh Mục

Liên Quan Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *