Nghiêm trị Hai vụ tham ô lớn 2 năm Dần giữa thế kỷ XIX – XX

Pháp Ty đã nhận được nhiều đơn nhưng lại “ngâm cứu bỏ qua”, không cứu xét. Tuy nhiên, về phía vua Tự Đức lại tin đơn tố giác của Chu Trung Lập có ít nhiều sự thật nên đã giao cho Tham tri Bộ Binh kiêm Quản Viện Đô sát đến Quảng Nam điều tra xử lý dứt điểm, để đề cao pháp quốc và an dân

(LSVN) – Năm Giáp Dần (1854) thời vua Tự Đức – Pháp đã chiếm lục tỉnh Nam Kỳ, nạn “tham quan ô lại” hoành hành, xã hội bất an, nhân dân oán thán. Một nhà buôn lớn ở Quảng Nam là Chu Trung Lập gửi đơn ra triều đình Huế tố giác nhiều quan lại ở đây đã nhận hối lộ để cho ra nhiều lái buôn trốn thuế, quan quản hạt thì thu tiền tràn lan, cho nhiều thuyền buôn ngoại quốc tự do ra vào buôn bán, lũng đoạn thị trường.
Một số quan lại được nêu đích danh liên quan đến các vụ việc tiêu cực như Tỉnh phái Bạch Doãn Lâm, Thông phái Nguyễn Chiêm Lượng, Tri phủ Nguyễn Bá Đôn, Đốc học Trịnh Xuân Thưởng…
hinh-2-47a19_ctue
Pháp Ty đã nhận được nhiều đơn nhưng lại “ngâm cứu bỏ qua”, không cứu xét. Tuy nhiên, về phía vua Tự Đức lại tin đơn tố giác của Chu Trung Lập có ít nhiều sự thật nên đã giao cho Tham tri Bộ Binh kiêm Quản Viện Đô sát đến Quảng Nam điều tra xử lý dứt điểm, để đề cao pháp quốc và an dân. Thấy có chuyện nhận tiền hối lộ của các quan sở tại để cho thương lái nước ngoài trốn thuế, nhưng một thành viên Đoàn thanh tra lại cho rằng việc này xảy ra ở nhiều nơi, người vi phạm không bị xử lý, còn ở Quảng Nam thì bị truy xét, đó chẳng qua là do hiềm khích cá nhân để buộc tội. Vậy xin triều đình đình chỉ điều tra vụ án.
Đọc xong bản tấu trình của Đoàn Quản Viện Đô sát, vua Tự Đức rất giận và phán: “Nhận tiền hối lộ của người khác ở đâu cũng là phạm tội, còn kẻ đó có bị trị tội hay không là do có hay không có người tố giác. Không thể là do cầu may được”. Rồi vua hạ lệnh cho các quan điều tra rõ xem lời tố giác của Chu Trung Lập là đúng hay sai sự thật để triều đình nghị án.
Tuân theo chiếu chỉ nhà vua, mấy tháng sau cuộc điều tra kết thúc, các quan thanh tra kết luận có rất nhiều quan lại, đủ các chức tước liên quan đến vụ tham nhũng này và kết án với các hình phạt khác nhau theo luật định.
Đã có 62 quan lại bị triều đình nghiêm trị, gồm 17 người bị xử giảo giam hậu, 25 người bị tội lưu, 12 người bị tội đồ, 8 người bị tội trượng (đánh) và cách chức.
Trong số các quan tham bị trị tội, có một số “tai to mặt lớn”, như nguyên Bố Chánh hiện đang là Tham tri Bộ Hộ là Phan Tĩnh nguyên Bố chánh Đại Tri Phú, nguyên Đốc học Phan Bật chia nhau 60 lạng bạc bị tội lưu; 4 người đang làm quan to tại Bình Định, Bắc Ninh bị khép vào tội “Thất sát”, bị giải chức. Tri phủ Điện Bàn bị xóa tên trong sổ quan tên là Nguyễn Bá Đôn, Án sát Đặng Kham đã tự sát do quá lo sợ, nhưng vẫn bị thu lại bằng sắc, nguyên Đốc học Trịnh Xuân Thưởng cũng bị nghiêm trị vì vừa nhận hối lộ vừa bao che đồng bọn.
Sau khi xem xét, vua Tự Đức ra lệnh: cho giảm tội lưu với 6 bị can trên 70 tuổi; 2 kẻ bị bệnh hiểm nghèo, nhưng vẫn bị cách bỏ chức dịch; giáng 4 cấp với Xuân Thưởng đổi đi khác, số còn lại vua y án theo tờ trình của quan thanh tra, bọn tội phạm phải nộp vào công quỹ những số tiền đã nhận hối lộ.
96 năm sau vụ án năm Giáp Dần (1854) thế kỷ 19 thời Tự Đức, đến năm Canh Dần (1950) thể kỷ 20 – bốn năm sau ngày lập quốc, khi cuộc khành chiến chống Pháp đang trong giai đoạn phòng ngự, chuẩn bị chuyển sang tổng phản công lại xảy ra vụ tham ô đặc biệt nghiêm trọng, làm chấn động dư luận khi ấy – vụ án Trần Dụ Châu – Đại tá Cục trưởng Cục Quân nhu thuộc Bộ Quốc phòng.
Trần Dụ Châu tuổi Ngọ năm ấy 44 tuổi, quê ở miền Trung, từng làm thư ký Tòa sứ Quảng Trị, nhân viên hỏa xa trước Cách mạng tháng Tám. Khi Việt Minh giành lại chính quyền, Châu đã hiến một số tài sản cho Chính phủ, vẫn làm việc ở hỏa xa. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Châu đã hoàn thành việc chuyền vận hàng ngàn tấn muối, gạo lên chiến khu Việt Bắc, tác phong hoạt bát, nên được đưa về làm việc ở Cục Quân nhu, mấy năm sau được đề bạt làm Cục trưởng, phong quân hàm Đại tá.
Khi đã có quyền và có tiền trong tay, Châu bắt đầu “tuột dốc”, sa vào ăn chơi trác táng, độc đoán chuyên quyền, bao gái bằng tiền trong két bạc của Chính phủ. Tai tiếng ăn chơi của Châu và đồng bọn nổi lên như sóng cồn ở vùng Thanh Cù thuộc xã Chấn Hưng, huyện Thanh Ba (Phú Thọ), nơi có đông người Hà Nội tản cư lên buôn bán sầm uất.
Ê kíp sa đọa của Châu có Lê Sĩ Cửu và Bùi Minh Chân ở ngay Văn phòng Cục, một lòng làm bậy theo lệnh của Châu, còn người chân chính can gián, tố cáo đều bị Cục trưởng đẩy đi nơi khác. Thậm chí, nhằm chủ động “phòng họa” từ xa, Châu đã báo cáo lên thượng cấp rằng ở Cục quân nhu “có một tổ chức gây chia rẽ và phá hoại quân đội ta” và Châu coi việc can gián của người lương thiện là hàm hồ, đố kỵ, ghen ăn, tức ở.
Cháy nhà ra mặt chuột
Sau đám cưới vợ của Bùi Minh Chân – thư ký của Châu – vô cùng xa xỉ, tốn kém ở Thanh Cù đầu năm Canh Dần (1950), ngày 15/5/1950 Báo Cứu Quốc số 1548 đã đăng bài viết của một tác giả được bạn rủ đến dự đám cưới của Chân với cái tít “Ăn cắp hay buôn lậu”?
Bài báo viết: “Đám cưới ông ấy sang quá! Đó là lời thiên hạ bàn tán ở miền Úc Sơn bấy lâu nay, chim gà mổ ở máng nước làm xao (đục) cả một khúc sông (sông Hồng ở cách đó không xa), bữa tiệc lại khéo tổ chức có ý nghĩa chính trị là đúng vào ngày lễ lớn, đủ mặt quan khách dự tiệc.
Tiệc ăn kéo dài theo lối “Tàu”, từ chập tối cho đến gần sáng, ngoài các món ăn Tây, Tàu, tiệc còn có những thứ phụ mà quan khách lâu ngày thèm muốn: nào xâm banh, rum xanh, Đuy bon – nê, thuốc lá thì hộp sắt Ăng Lê 50điếu/hộp, kẹo bánh thì bích quy Hoa thịnh đốn, hoa quả thì táo tây và câm Bố hạ trái mùa…
Đặc biệt và quý phái nhất bàn tiệc lại được soi sáng bằng ngót trăm cây nến “nhà thờ” thắp liên tiếp sáng hơn thủ đô thời bình. Người ta đồn là tiệc cưới “đời sống mới” này đã tiêu tốn mười vạn bạc, và lợi dụng địa vị cao cấp của chú rể, chúng ta đã có phép “com măng” (đặt hàng) mua được toàn đồ xa xỉ ở tận thủ đô ra trong lúc (địch) đang vây kinh tế khá ngặt nghèo này!
Người ta tự hỏi: chúng ăn cắp hay buôn lậu mà lắm tiền thế? Chúng tôi đề nghị chính quyền điều tra vụ này”. Tác giả bài báo là Hữu Danh, đây là bút danh của Nhà văn Nguyễn Đình Tốn.
Còn ngay trong tiệc cưới, nhà thơ Đoàn Phú Thứ được chú rể mời dự đã làm 2 câu thơ mừng cô dâu chú rể theo lời giới thiệu của Đại tá Trần Dụ Châu là chủ hôn.
“Bữa tiệc mà chúng ta sắp chén đẫy hôm nay,
Được dọn bằng máu xương của bao chiến sĩ”.
Một chuyện bất ngờ, độc nhất vô nhị đã xảy ra: Nhà thơ đã bị một vệ sĩ của Trần Dụ Châu tát ngay vào mặt khi ông chưa kịp ngồi xuống. Đám tiệc xôn xao, càng ngỡ ngàng khi nghe tên côn đồ còn quát lại nhà thơ là “nói láo”.
Đoàn Phú Thứ lấy khăn lau mặt, vứt khăn vào cốc rượu vang đỏ, thản nhiên đi ra ngoài, mấy hôm nay ông đã viết đơn tố cáo vụ này. Ngành Thanh tra Quân đội đã vào cuộc.
Mười ngày trước khi chiến dịch Lê Hồng Phong mở màn (Chiến dịch giải phóng biên giới), ngày mồng 5/9/1950 tòa án binh Trung ương đã được mở tại Thái Nguyên xét xử vụ án Trần Dụ Châu tham ô công quỹ, do Thiếu tướng Chu Văn Tấn ngồi ghế Chánh án, Thiếu tướng Trần Tử Bình ngồi ghế công cáo (kiểm sát).
Tòa tuyên phạt Trần Dụ Châu bị án tử hình, 2 tên Cửu, Chân mỗi tên bị 10 năm tù. Trần Dụ Châu gửi đơn lên Hồ Chủ Tịch xin tha cho tội chết. Bùi Minh Chân – chú rể đám cưới ở Thanh Cù – sau đó đã tự sát trong trại giam.
Hồ Chủ tịch bác đơn của Trần Dụ Châu. Người cho rằng “Phải giết con sâu đang đục rỗng một cây trong rừng để cứu cả cánh rừng là cần thiết, và là việc làm nhân đạo”. Tử tù Trần Dụ Châu đã phải thi hành bản án tại Thái Nguyên, dư luận bộ đội nhân dân hoan nghênh thở phào, của công từ nay được bảo vệ để nuôi bộ đội ăn no, mặc ấm, chiến thắng quân thù.
Qua 2 vụ án tham ô, hối lộ xảy ra 2 năm Dần giữa 2 thế kỷ 19 – 20, dưới 2 chính thể khác nhau của dân tộc, nhưng đều chung một nguyên nhân: Hễ có chức có quyền, nhưng thiếu đạo đức “làm quan” đều bị đồng tiền cám dỗ và sa ngã, trở thành bọn sâu mọt của nhân dân, sống phè phỡn trên sự đau khổ của mọi người, trở thành tội phạm, kẻ thù của nhân dân, nhưng chúng đều bị nghiêm trị, theo tinh thần “Công pháp bất vị thân”, gieo gió ắt gặp bão.
Điều giống nhau của 2 vụ án ở 2 thời kỳ cách nhau gần 100 năm đều do những công dân tâm huyết phát hiện, tố cáo với chính quyền, xử lý. Riêng vụ án Trần Dụ Châu 60 năm trước đây còn do báo chí cách mạng lên tiếng trước công luận, do một nhà văn thực hiện, đã giúp cho Thanh tra Quân đội vào cuộc điều tra, đấu tranh, khởi tố và xét xử đúng Quốc lệnh “thưởng phạt” của Hồ Chủ Tịch đã ký, ban hành sau ngày Cách mạng vừa thành công.
Hiện nay, tham những vẫn là một trong các nguy cơ làm nghèo đất nước, tác động xấu đến niềm tin của nhân dân và an sinh xã hội, Đảng và Nhà nước quyết tâm lãnh đạo để đấu tranh ngăn chặn, hạn chế hậu quả của quốc nạn này gây ra. Đã có nhiều kẻ phạm tội bị trừng trị, dư luận đồng tình, nhưng việc xử lý nhiều vụ xem ra chưa được thuận lòng dân, án tù treo với những kẻ này còn chiếm tỷ lệ cao, vì công pháp còn vị thân, đã trở thành vấn đề được Quốc hội đặc biệt quan tâm, cần sự chỉ đạo chặt chẽ bảo đảm việc trừng trị bọn mắc tội danh này đúng pháp luật, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Phải giết con sâu đang đục rỗng 1 cây trong rừng để cứu cả cánh rừng là cần thiết, và là việc làm nhân đạo của cách mạng”..

Cùng Danh Mục

Liên Quan Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *