Đi tìm lời giải mã mối quan hệ giữa quyền con người và hương ước Việt Nam

Kể từ khi con người hiện đại xuất hiện, các tôn giáo lần lượt ra đời, từ Phật giáo (Thế kỷ VI TCN), Ki tô giáo (Thế kỷ thứ I sau CN), đến Hồi giáo (Thế kỷ VII). Dù giải thích khác nhau về nguồn gốc loài người, các tôn giáo này đều có tư tưởng, có các giáo luật thể hiện sự tôn trọng phẩm giá con người, bảo vệ con người, đặc biệt là nhóm yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người già, người tàn tật, người nghèo… và đề cao sự bình đẳng, lòng nhân ái, yêu thương con người. Đây có thể coi là những tư tưởng đầu tiên của nhân loại về .

Dân tộc Việt Nam không phải là nơi sản sinh ra khái niệm quyền con người, nhưng trong hành trình dựng nước, giữ nước, dân tộc ta đã hình thành một truyền thống nhân ái, bao dung, đoàn kết rất sâu sắc.
Truyền thống ấy được lưu giữ trong ứng xử thường nhật, trong sử sách, trong các đạo luật và trong hương ước. Hương ước, lệ làng của người Việt, tồn tại song song với luật nước, điều chỉnh các mối quan hệ giữa những người dân trong phạm vi làng xã cổ truyền, nên nó trở thành một phương tiện có khả năng ghi nhận và phản ánh quyền con người ở Việt Nam một cách hữu hiệu.

261-410x273
Khái quát chung về quyền con người

Kể từ khi con người hiện đại xuất hiện, các tôn giáo lần lượt ra đời, từ Phật giáo (Thế kỷ VI TCN), Ki tô giáo (Thế kỷ thứ I sau CN), đến Hồi giáo (Thế kỷ VII). Dù giải thích khác nhau về nguồn gốc loài người, các tôn giáo này đều có tư tưởng, có các giáo luật thể hiện sự tôn trọng phẩm giá con người, bảo vệ con người, đặc biệt là nhóm yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người già, người tàn tật, người nghèo… và đề cao sự bình đẳng, lòng nhân ái, yêu thương con người. Đây có thể coi là những tư tưởng đầu tiên của nhân loại về quyền con người.

Theo các bước tiến của nhân loại, các bộ luật ra đời, ngày nay người ta còn lưu giữ được các bộ luật cổ xưa như Luật Hammurabi, Luật Manu, Luật Kautilya, Luật Asoka… cũng chứa đựng nhiều quan niệm về công bằng, về nhân phẩm và các quyền lợi chính đáng của con người.

Tuy nhiên, phải đến các cuộc cách mạng dân chủ tư sản ở các thế kỷ XVII – XVIII quyền con người mới có bước phát triển vượt bậc. “Chúng không chỉ nêu ra một tập hợp các quyền con người, mà còn đưa ra các nguyên tắc của tự do và công bằng vốn là nền tảng tổng hợp của các quyền con người và truyền cho các quyền đó ý nghĩa dân chủ thực sự và đầy đủ. Dựa trên sự công bằng, quyền con người xác định phạm vi tự do của con người, vốn trở thành một trong những giá trị chủ yếu định hướng cho sự phát triển của xã hội”.

Bước sang thế kỷ XIX, XX sự phát triển quyền con người diễn ra hết sức mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu to lớn. Ở thế kỷ XIX thì quyền con người trở thành vấn đề nỏng bỏng, gắn liền với cuộc đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ. Sang thế kỷ XX, sự ra đời của Liên hợp quốc và thông qua bản Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (1948) đánh dấu bước phát triển đặc biệt của quyền con người. Kể từ dấu mốc này, quyền con người được nhân loại thừa nhận là một giá trị cơ bản, phổ quát, trở thành một hình thức pháp luật đặc biệt của luật quốc tế.

Sau Tuyên ngôn 1948, nhiều công ước và cam kết quốc tế khác được triển khai, nhằm cụ thể hóa quyền con người. Đáng chú ý là Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (1966); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966); Công ước quốc tế về các quyền chính trị của phụ nữ (1953); Công ước về thủ tiêu mọi hình thức phân biệt chủng tộc (1963-1965); Công ước quốc tế về quyền trẻ em (1989)… Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đã tham gia Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (1948) và các Công ước quốc tế cơ bản.

Tư tưởng quyền con người trong lịch sử truyền thống Việt Nam

Ngày nay, các nhà nghiên cứu nói chung đều thừa nhận rằng những giá trị dân chủ, nhân bản, tôn trọng và đề cao phẩm giá con người, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau… chính là sự kết tinh từ tinh hoa của các dân tộc trên thế giới.

Ở Việt Nam, do đặc thù lịch sử dân tộc là phải trải qua biết bao gian nan thử thách trong quá trình dựng và giữ nước, chống lại thiên tai địch họa, chống giặc ngoại xâm từ đời này sang đời khác nên tư tưởng quyền con người thể hiện cụ thể, trước hết ở quan niệm về khoan dung và nhân đạo. Dấu vết xưa nhất của những tư tưởng thô sơ về quyền con người thể hiện và lưu giữ rõ nhất qua dân ca, ca dao, tục ngữ như những câu đề cao lòng nhân ái, lên án áp bức, bất công…

Tư tưởng quyền con người còn in đậm trong các tác phẩm của một số tác gia trung đại, mà tiêu biểu nhất là Nguyễn Trãi (1380-1442). Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi khẳng định “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, trong đó ông căm phẫn lên án tội ác của giặc Minh với nhân dân ta “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn/ Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ/ Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn khóe/ Gây binh kết oán trải mấy mươi năm… Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ/ Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng…” nên “Lòng người đều căm giận/ Trời đất chẳng dung tha”…

Tư tưởng quyền con người còn được thể hiện trong tập quán và pháp luật Việt Nam thời phong kiến. Trước hết là Quốc triều hình luật ( Bộ luật Hồng Đức) được ban hành thời Hậu Lê (thế kỷ XV) dưới thời Lê Thánh Tông. Mặc dù không tránh khỏi quy luật chung hà khắc của pháp luật phong kiến, nhưng bộ luật này có những quy định hết sức nhân văn, đề cao quyền con người. Ví dụ, có những điều luật bảo vệ phụ nữ rất hay như Điều 25 Chương Hộ hôn: “Phàm chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại (vợ được trình với quan sở tại và quan làm chứng) thì mất vợ. Nếu vợ đã có con thì cho hạn một năm…”. Luật còn quy định “nếu gia đình không có con trai thì người con gái trưởng được giữ hương hỏa và thờ phụng cha mẹ, tổ tiên như con trai trưởng… Câu tục ngữ “vô nam dụng nữ” ta thường nghe lại làm chứng rõ rệt cho tập tục ấy”.

Đến Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) ban hành năm 1813 dưới triều vua Gia Long, mặc dù bị chỉ trích là sao chép Hình luật nhà Thanh (Trung Quốc) rất hà khắc, nhưng trong đó cũng chứa đựng những quy định thấm đượm tinh thần nhân bản. Đơn cử Điều lệ 1 Phần Danh lệ: “Phàm cả anh em trai đều phạm tội và đều bị kết án tội chính thì một trong hai người được ở lại nuôi cha mẹ”. Điều 17 khoản 268 lại quy định: “Người nào dùng lời thô tục, dâm đãng làm cho người đàn bà đến xấu hổ mà tự tử thì phải xử đến hình giảo giam hậu”.

Sang thế kỷ XX, nhiều vị trí thức Nho học và Tây học cổ súy cho tư tưởng quyền con người rất nhiệt thành như Phan Bội Châu (1867-1940), Phan Chu Trinh (1872-1926), Nguyễn Thượng Hiền (1868-1925), Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947)…

Một dấu mốc đặc biệt quan trọng trong tư tưởng quyền con người ở Việt Nam là bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngay lời mở đầu, bản Tuyên ngôn đã khẳng định: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu nói ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Bản Tuyên ngôn độc lập này đã xác định một nội hàm mới, có ý nghĩa đặc biệt đối với quyền con người, đó là quyền con người gắn liền với độc lập dân tộc.

Suốt 60 năm qua, tư tưởng quyền con người ở Việt Nam dù có những lúc nhận thức khác nhau nhưng đến nay đã có những bước tiến rất dài. Tiêu biểu nhất là Hiến pháp mới, được Quốc hội thông qua năm 2013, trong đó có một Chương riêng về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và vị trí của Chương xếp ngay sau Chương 1. Trong Hiến pháp này, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta về quyền con người, cũng như những thành tựu về quyền con người của nhân loại, thông qua những Tuyên ngôn, Công ước mà Việt Nam đã tham gia đều đã được chắt lọc để ghi nhận thành những quyền hiến định.

Hương ước – một phương thức ghi nhận, phản ánh tư tưởng quyền con người trong lịch sử Việt Nam

Hương ước, lệ làng của người Việt, tồn tại song song với luật nước, điều chỉnh các mối quan hệ giữa những người dân trong phạm vi làng xã cổ truyền, nên nó trở thành một phương tiện có khả năng ghi nhận và phản ánh quyền con người ở Việt Nam một cách hữu hiệu. Bởi lẽ, thứ nhất là tư tưởng quyền con người, truyền thống nhân ái, yêu thương, đùm bọc, bảo vệ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống cộng đồng đã được phản ánh trong luật tục, trong ca dao, tục ngữ, trong các trước tác văn học, ngôn thuyết của nhiều tác giả nhưng chỉ đến hương ước, những nội dung này mới được văn bản hóa, ghi nhận bằng những quy định cụ thể, có giá trị bắt buộc thực hiện đối với mọi thành viên trong làng. Do đó, hẳn nhiên là nó hữu hiệu hơn tất cả các hình thức ghi nhận, phản ánh nội dung quyền con người trước đó.

Thứ hai, hương ước do dân làng tự thỏa thuận, biên soạn, thông qua và thi hành nên nó chứa đựng trong đó những nguyện vọng tha thiết của họ về quyền con người, những mong ước được sống bình đẳng, được tham gia quản lý làng xã, bàn bạc việc làng, được tạo điều kiện lao động sản xuất, được tổ chức hội hè, đình đám, được tôn trọng và lúc khó khăn, đau yếu, qua đời được cộng đồng quan tâm, giúp đỡ… Vì không bị áp đặt từ phía nhà nước như đối với pháp luật nên hương ước ghi nhận quyền con người của cộng đồng làng xã cụ thể, hữu hiệu, gần với ý chí nguyện vọng của người dân nhất.

Thứ ba, hương ước là sự tập hợp có chọn lọc những tục lệ gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của làng xã, và liên tục được sửa đổi bổ sung nên độ bao phủ của hương ước tương đối toàn diện đối với các mối quan hệ trong làng xã, quy định chuẩn mực ứng xử cho các thành viên trong cộng đồng; bao quát đủ các lĩnh vực của đời sống… Do đó, quyền con người cũng được chuyển hóa, tôn trọng và bảo vệ trong mọi mối quan hệ và mọi lĩnh vực mà hương ước ghi nhận.

Con đường để hương ước ghi nhận, phản ánh tư tưởng quyền con người thể hiện rõ trong quá trình soạn thảo hương ước. Trước hết, ban soạn thảo hương ước đều là người của chính địa phương đó, nên họ thấu hiểu mọi mặt của làng quê mình, từ địa vực, phong tục, tập quán, đến nguyện vọng, tâm tư, tính cách dân làng mình. Trong ban soạn thảo có nhiều thành phần, ví dụ như hương ước cổ làng Mộ Trạch (Hải Dương), một làng nổi tiếng khoa bảng, nhiều người đỗ đạt, lập năm 1665, thì có ba thành phần. Phân tích của Vũ Duy Mền cho thấy, thứ nhất là các triều quan như các vị Bồi tụng, Binh bộ Thượng thư, Tri phủ, Tri huyện, Huấn đạo. Thành phần thứ hai trực tiếp soạn hương ước là các thành viên Văn thuộc (Hội Tư văn), tức các vị Nho học trong làng như Nho sinh trúng thức, Giám sinh, Sinh đồ… Họ vừa có đủ năng lực xây dựng, soạn thảo văn bản vừa đại diện cho đông đảo người dân. Thành phần thứ ba là Xã thôn trưởng.

Hơn nữa, hương ước đều được dân làng bàn thảo, thông qua. Ví dụ Điều thứ 157, Hương ước làng Ngọc Cục, tổng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định ghi: “Lập hương ước này hôm nay là ngày 30.11.38. Hai bên Hương hội, Lý dịch đã chiểu hội dân đinh ở đình làng tuyên đọc mọi người đều ưng thuận ký tên sau này”.

Do cách thức xây dựng và thông qua một cách khá dân chủ nên có thể nói hương ước ghi nhận được ý chí, nguyện vọng của người dân.

Tuy nhiên, quyền con người được hương ước cải lương hương chính ghi nhận, phản ánh, bảo vệ không mang đầy đủ nội hàm của thuật ngữ quyền con người hiện đại mà chỉ là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có của con người. Khái niệm quyền con người ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, mang tính phổ quát với nghĩa là những lợi ích chính đáng của con người.

Cùng Danh Mục

Nội Dung Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *